## TRANG 439 BẬC ALAHAN VÀ CÁC BẬC PHI THƯỜNG 383 Nói tóm lại, 14 bất thiện tâm sở do sự không biết và ham muốn (**Vô minh - Avijjā**, **Tham ái - Taṇhā**) dẫn đầu, đang đeo đủ loại mặt nạ để đánh lừa và hành hạ chúng sinh. Nếu không quán chiếu bản chất đó, ý nghĩ sai lầm về hình tướng chế định rằng “Anh Phyu đang cản trở công việc của tôi” sẽ nảy sinh, và 14 tâm sở ấy lại mang một chiếc mặt nạ khác để xâm nhập vào tâm. Những điều này có nghĩa là gì? Ngài Trưởng lão Lintsinkon và Ngài Sayadaw trẻ U Medhāvi đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, mạo hiểm tiến về núi Minlo. Tuy nhiên, một số thí chủ thân cận của Ngài Lintsinkon vì lo lắng đi tìm vị sư bị mất tích, cuối cùng chẳng đặng đừng, đã phát tâm hộ độ xây cất các tinh xá, từ đó người ra kẻ vào bắt đầu đông đúc. Ngài U Medhāvi bắt đầu cảm thấy nản lòng. Sau đó, với những lời lẽ (khó lòng từ chối) như “Xin cho con được hầu cận, xin được hướng dẫn tu tập thiền định”, các vị Tỳ-kheo dần dần tìm đến nương tựa, khiến số tăng chúng lên đến 25 vị. Thời gian trôi qua, một số vị Tỳ-kheo đã cùng nhau cung thỉnh Ngài U Medhāvi rằng: “Bạch Ngài, xin Ngài từ bi giảng dạy cho chúng con một khóa hạ về bộ **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)**.” Ngài Trưởng lão cũng lên tiếng khuyến khích thêm, khiến Ngài U Medhāvi không thể từ chối được nữa. Đây chính là một sự chướng ngại tấn công một cách tinh vi khiến Ngài không thể nào thoái thác. Thế là, dù đã từ bỏ Phật học viện lớn ở làng, Ngài U Medhāvi lại phải mở một Phật học viện mới trên núi, tiếng tụng đọc bộ **Thanh Tịnh Đạo** vang dội khắp cả vùng núi. Điều đó tuy tốt, nhưng cũng thật chẳng lành. ### Lần xuất gia vào rừng thứ ba Ngài U Medhāvi là người có quyết tâm sắt đá, dù tạm thời phải chấp nhận thất bại, ngay sau khi kết thúc một hạ giảng dạy, Ngài liền rời khỏi núi Minlo để trở về lại chùa Monankon. Lần này, Ngài mang theo một ý nguyện dấn thân còn khó khăn hơn thế nhiều. Đó không gì khác hơn là việc thỉnh vị thầy ân đức vô lượng của mình — Ngài Trưởng lão Monankon — cùng đi vào rừng sâu. Tuy nhiên, đây không phải là một kế hoạch dễ dàng. Ngài vẫn lưu lại đó một thời gian, ngày đêm suy tính cách thức thực hiện. Một ngày nọ, sau khi các vị Tỳ-kheo trẻ vừa học xong (**Cūḷavagga Pāḷi**) từ Ngài Trưởng lão trở về, Ngài nghe thấy tiếng họ cùng nhau ôn bài trên chiếc chõng dưới gốc cây me. ## TRANG 440 Điều đó càng làm cho tâm ly tham (saṁvega) trong Ngài mãnh liệt hơn. Dhammācariya U Htay Hlaing Lý do là vì các vị đang đọc tụng ôn lại bản dịch sáp nhập Pāḷi - Miến đoạn lời khuyên của Hoàng tử Mahānāma Thích-ca dành cho người em là Anuruddha để khuyến khích đi xuất gia: “Các việc thế gian này chẳng bao giờ kết thúc. Năm tới cũng việc này, năm tới nữa cũng việc này, những việc ấy không bao giờ chấm dứt, cha mẹ ông bà ta cũng đã chết trong khi vẫn đang dang dở công việc ấy.” Khi ấy, Ngài U Medhāvi lấy hết can đảm, trong lúc đang hầu cận Ngài Trưởng lão, đã bạch rằng: “Bạch Ngài, giữa lúc tuổi thọ ngắn ngủi này, mỗi ngày trôi qua chúng ta lại càng già yếu thêm. Như những việc thế gian không có hồi kết, việc hoằng pháp với đồ chúng đông đảo này cũng vậy, ngày nào cũng là bài học này, ngày nào cũng là đồ chúng này, dường như chẳng bao giờ chấm dứt. Bước đi trên con đường có điểm kết thúc thì sự mệt nhọc mới đáng công lao. Nếu cứ tiếp tục như thế này, chúng ta sẽ chẳng thể nỗ lực thực hành pháp hành của bậc Sa-môn được nữa. Các bậc thầy thời xưa cũng thường để uổng phí cả đời theo cách này. Còn về đồ chúng, khi họ nhận được điều họ cần và xong việc của họ thì cũng giống như những vị khách trọ tại nhà nghỉ (zayat), họ sẽ rời đi theo ý mình mà chẳng hề màng đến tình nghĩa thầy trò.” Ngài đã mạo hiểm thưa thỉnh như vậy. Ngài Trưởng lão không hề đáp lời. Ngài U Medhāvi đảnh lễ rồi lui ra. Ngày hôm sau, Ngài bàn bạc với các vị đệ tử nòng cốt của Ngài Trưởng lão như Ngài U Revata và lại tiếp tục thưa thỉnh. “Bạch Ngài, nếu Ngài xuất gia vào rừng, con cũng đã quyết định sẽ theo hầu cận phụng sự Ngài như thế này. Ở vùng Lewe rừng núi rất hoang vu. Ngài U Ācara ở chùa Pattapoine, Lewe cũng đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để Ngài có thể an trú tĩnh lặng. Còn về đại tự viện Monankon này, Ngài U Revata sẽ chịu trách nhiệm quản lý và vun bồi ba-la-mật như lúc Ngài còn ở đây.” Sau khi Ngài thưa thỉnh như vậy đúng ba lần trong ba ngày: “Tốt lắm. Ta cũng đã suy xét xong rồi. Mọi việc cứ để Sư (U-pyin-zin) sắp xếp. Chúng ta đi thôi. Nhưng trước hết hãy ghé qua chỗ của Khun-zaw ở làng Pyaw một lát.” “Khun-zaw” là cách gọi Ngài U Saw Ta (Thời xưa, người ta gọi các vị Sư là “Khun-gyi”). Ngài U Saw Ta là một đệ tử được giao phó trông nom ngôi chùa ở làng Pyaw và làng Pitaukkon. Khi đó, vị đệ tử này đã rời bỏ ngôi chùa làng để ẩn tu khổ hạnh trong một thảo am bốn cột tại khu rừng chăn bò (nay là Nyaung-lunt Tawya), cách làng Pyaw khoảng một dặm về phía Đông. Ngài Trưởng lão muốn ghé thăm trước khi đi đến rừng Lewe. Ngài Sayadaw trẻ U Medhāvi vô cùng hoan hỷ. Chẳng để cho bất kỳ ## TRANG 441 BẬC ALAHAN VÀ CÁC BẬC PHI THƯỜNG 385 đệ tử hay thí chủ nào biết, sau khi thọ trai ngày hôm sau, Ngài chỉ nói ngắn gọn là “có việc cần” rồi như thường lệ, mỗi vị mang theo bát, vắt túi da lên vai, tay cầm thiền trượng đi bộ đến ga Shweda. Từ đó, các Ngài tiếp tục đi đến ga Nyaung-lun (với vé cúng dường từ thí chủ U San Nyein ở làng Sipin). Sau khi xuống tàu, các Ngài đi bộ từ ga Nyaung-lun khoảng một dặm năm furlong về hướng Tây Bắc, qua làng cũ của ẩn sĩ U Khanti Jati (nay không còn nữa) và làng Pyaw, rồi đến thảo am nhỏ tại khu rừng chăn bò của Ngài U Saw về phía Đông một dặm. Đó là vào tháng Tabaung (tháng Ba) năm 1269 (Miến lịch), thời tiết rất nắng nóng. Khi đến thảo am nhỏ, các Ngài không thấy Ngài U Saw bên trong mái lá của ngôi chùa bốn cột. Nghe thấy tiếng ôn bài từ trong bụi rậm không xa, các Ngài nhìn vào thì thấy chính là Ngài U Saw. Ngài U Saw khi thấy hai vị thầy đến thì vô cùng mừng rỡ, vừa niệm tụng bài học vang rền nhưng lại không dám bước ra chỗ các Ngài. Tiếng hót của những chú chim bìm bịp hòa cùng tiếng tụng kinh của Ngài U Saw tạo nên một khung cảnh thật thanh bình. Cho đến khi Ngài U Medhāvi đi tới thưa chuyện, Ngài U Saw mới lật đật đứng dậy đảnh lễ và ngồi xuống một cách cung kính, rụt rè như một chú tiểu. Tại trú xứ này thậm chí không có nước uống, nên các Ngài phải nhờ một chú bé chăn bò báo tin cho thân quyến của Ngài Trưởng lão ở làng Pyaw. Chẳng bao lâu sau, các thí chủ như Pho Swat, Pho Khaung từ làng Pyaw và Pitaukkon đã mang nước uống và nước trái cây đến cúng dường. Với lòng thành kính, họ đã lập tức phát quang rừng rậm và dựng lên hai thảo am nhỏ để cúng dường. Dù mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn ở Lewe, nhưng vì đang có dịch bệnh đường ruột bùng phát nên Ngài Sayadaw xứ Lewe đã đến thỉnh các Ngài tạm trú tại thảo am này. Dù vị ấy đã đến thỉnh thêm một lần nữa, các Ngài vẫn không chấp nhận. “Rừng ở Lewe cũng là rừng, mà rừng ở đây cũng là rừng thôi,” với lời an ủi đó, các Ngài đã quyết định dứt khoát sẽ an trú tại trú xứ rừng của Ngài U Saw. Ngài U Saw cùng các thí chủ trong vùng cũng thỉnh cầu: “Để các Ngài có thể an tâm tu tập thiền định, chúng con xin được hộ độ tứ vật dụng và các việc công quả. Xin các Ngài hãy thường trú tại đây.” Sau đó, họ đã xác định ranh giới đất chùa một cách chính xác, xây dựng các tinh xá phù hợp và cúng dường thành di sản của Chư Tăng bốn phương (Cātuddisa Saṅghika). ### Con đường ngược dòng — Mài sắt thành kim Ngài U Medhāvi và Ngài U Saw không nhận cơm cúng dường mang đến mà hàng ngày đều tự mình đi khất thực để nuôi dưỡng Ngài Trưởng lão. Khu rừng chăn bò dần dần trở nên thanh tịnh và an lạc.