## TRANG 565 BẬC ALAHAN VÀ CÁC VỊ ĐẶC BIỆT 511 Sau đó, các vị Chư thiên trú ngụ tại địa phương (Bhummā-deva), các vị thọ thần (Rukkha-deva) cùng với chư thiên và phạm thiên từ khắp nơi đã lần lượt kéo đến đảnh lễ ngài, tạo nên một cảnh tượng uy nghiêm trải dài vô tận. Với thân tâm vô cùng an tịnh và sáng suốt, Ngài hướng tầm mắt quan sát khắp cả vũ trụ thế gian này. Từ cõi trời tột đỉnh (Bhavagga) cho đến địa ngục A-tì (Avīci) sâu thẳm, tất cả các cõi địa ngục, nhân giới, thiên giới và phạm thiên giới đều hiện ra rõ rệt, thông suốt như nhìn vào một khoảng không trống rải. Ngài có thể quán sát một cách chi tiết và thấu đáo cả ba loại thế gian: Chúng sinh thế gian (Satta-loka), Hành thế gian (Saṅkhāra-loka) và Khí thế gian (Okāsa-loka). Sau đó, Ngài bắt đầu quán chiếu về cuộc đời của chính mình. Ngài sinh tại làng Sunlun, phía nam thị trấn Myingyan, là con của ông U Thant và bà Daw Toke, vào sáng sớm Thứ Hai trước khi tiếng chuông canh bốn vang lên, mùng 2 tháng Tabaung năm 1239 (Âm lịch Myanmar). Ngài từng đi học tại tu viện Myingyan Min Kyaung nhưng vì không tiếp thu được chữ nghĩa nên đã rời trường vào năm 15 tuổi. Cùng với cha, Ngài làm công việc kéo quạt dây (punkah) tại văn phòng Quan cai trị. Đến năm 30 tuổi, Ngài nghỉ việc và trở về làm ruộng rẫy để sinh sống... Ngài tiếp tục quán sát về quá trình từ một người có trí tuệ hạn hẹp trong hiện tại cho đến khi đắc được quả vị Alahan (Arahatta-phala) cao thượng vô song, nhìn lại toàn bộ nguyên nhân từ quá khứ dẫn đến kết quả này. Đạo quả Alahan và Lậu tận trí (Āsavakkhaya-ñāṇa) mà Ngài U Kavi đạt được, đi kèm với Túc mạng trí (Pubbenivāsānussati-ñāṇa) và Thiên nhãn trí (Dibba-cakkhu-ñāṇa). Vì đã thành tựu cả ba loại minh (Vijjā) là Túc-Thiên-Lậu, nên Ngài chính là một vị "Bậc Alahan Tam Minh" (Tevijja Arahant). Khi quán chiếu rằng: "Ta đã thực hiện những công đức lành nào mà đạt được pháp thượng nhân này?", Ngài đã nhìn thấy thiện sự mình từng làm dưới thời Đức Phật Kassapa (Ca-diếp) như sau: ### TRUYỆN KÝ NGÀI U KAVI (U Kavi Thera-apadāna) Trong vòng luân hồi (Saṃsāra) đầy rẫy những nỗi khổ đau, khi thì sinh ra ở nơi này, lúc lại ở nơi khác, trôi lăn qua nhiều kiếp sống khác nhau, lên xuống thăng trầm, như con bò quay quanh cột, Ngài nhìn lại không dứt các kiếp làm người, làm trời hay súc sinh. Trong số vô vàn kiếp sống đó, Ngài quán chiếu về thiện nghiệp làm duyên (Upanissaya) hỗ trợ cho việc đắc pháp hiện tại, và thấy rằng vào thời Đức Phật Kassapa, Ngài từng là một con chim vẹt. Con vẹt đó đã hết lòng ## TRANG 566 thành tâm và cung kính đối với Đức Phật, đã chắp hai đầu cánh lên đầu (thay cho đôi tay đảnh lễ) và với tâm vô cùng hân hoan, đã dâng cúng trái cây lên Ngài. Nhờ thiện nghiệp đó, Ngài đã trải qua nhiều kiếp hưởng thụ vinh hoa phú quý bậc nhất ở các cõi người và cõi trời. Sau đó, trong một kiếp khác, Ngài từng là một vị thái y đại danh tiếng tại thành Takkasilā (Taxila), đã dùng y thuật để cứu độ chúng sinh. Ngài cũng thấy rằng: "Tất cả những ai từng có duyên gặp gỡ và liên hệ với ta trong kiếp đó, nay sẽ tìm đến ta để thọ nhận liều thuốc giáo pháp, giúp họ thoát khỏi căn bệnh phiền não (kilesa)." (Có vẻ như các hàng đệ tử cần được hóa độ của ngài hiện nay chính là những người đã có duyên từ kiếp làm thầy thuốc đó). Cần lưu ý về các phần kết thúc của 550 bản Duyệt Chuyện (Jātaka). Những người thiếu trí tuệ thường xem 550 chuyện tiền thân như là thần thoại hay truyện cổ tích nhẹ nhàng, nhưng đúng ra cần phải nuôi dưỡng đức tin dẫn dắt bởi trí tuệ. Trong việc nhiếp phục và hóa độ chúng sinh đang vùng vẫy trong vòng xoáy của phiền não, 550 bản Duyệt Chuyện của Đức Thế Tôn không phải là loại truyện cổ tích mà ông nội kể cho cháu nghe. Ngài U Kavi đã chỉ rõ rằng đó là những sự thật đã từng xảy ra trong quá khứ, được Đức Phật dùng Túc mạng minh để nhìn lại và thuyết giảng. Vào thời giáo pháp của Đức Phật Gotama, Ngài cũng thấy mình từng có một kiếp là Thiền sư Bar-me, vị thầy của vua Manuha tại vương quốc Suvaṇṇabhūmi (Thaton). Trước khi nhập thai vào lòng bà Daw Toke (thân mẫu hiện tại), thân phụ là ông U Thant đã có một giấc mơ. Ông U Thant kể lại rằng, có một người dáng vẻ thanh lịch đến nói rằng: "Xin cho tôi được vào ở trong nhà này". Ông trả lời: "Nhà tôi nghèo lắm, xin đừng vào ở", nhưng người đó vẫn nhất quyết xin vào và ông đã chấp thuận. Do đó, Ngài đã sinh ra với cái tên "Maung Kyaw Din", trải qua một đời sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn trí tuệ. Trong các kiếp luân hồi trước đây, phần lớn Ngài sinh vào các cõi súc sinh vô tri (a-hetuko), nên dù trong kiếp cuối cùng (Pacchimabhavika) để trở thành bậc Alahan, trí tuệ học thuật của Ngài vẫn còn hạn chế. Ngài từng thuyết rằng: "Trong năm trăm kiếp, chỉ có hai kiếp được làm người". Điều này nhắc nhở chúng ta rằng thân người khó đắc đến nhường nào. Trong kinh điển Phật giáo, có truyền thống các vị Đại Trưởng lão trong phần Thera-apadāna (Trưởng Lão Tăng Kỷ Sự) thường thuyết giảng về việc họ đã làm công đức gì ở kiếp nào, hưởng lạc ra sao ở cõi người, cõi trời, và đã đạt được các pháp thượng nhân như thế nào trong giáo pháp này. Những diễn biến này chính là "Truyện Ký Ngài U Kavi" vậy. ## TRANG 567 BẬC ALAHAN VÀ CÁC VỊ ĐẶC BIỆT 513 ### LỜI TIÊN TRI CỦA VỊ GIÁO CHỦ Vào thời điểm vị sẽ là ngài U Kavi – "Maung Kyaw Din" – còn đang lam lũ làm công việc kéo quạt để mưu sinh, khi đến tuổi trưởng thành, ông đã kết hôn với một người phụ nữ cùng làng tên là Ma Shwe Yi và có với nhau năm người con. Bốn người đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại một người con trai tên là Ko Shein (còn gọi là Ko Kan Nyunt). Năm 30 tuổi, ông nghỉ công việc ăn lương và quay về làm ruộng rẫy theo nghề cũ của cha mẹ. Từ anh Kyaw Din trở thành ông U Kyaw Din, tiến trình cuộc đời trôi đi nhanh chóng. Giống như các bậc vĩ nhân như Đức Thế Tôn thường có những vị đạo sư thế gian như Asita (Devela) hay Koṇḍañña (Kiều-trần-như) ở bên cạnh, Ngài U Kyaw Din cũng có một người bạn thân là ông U San Tin, người đóng vai trò như Koṇḍañña vậy. Có người nói ông U San Tin là "người thành tựu về định học", có người lại nói ông "thỉnh thoảng được các vị đại phạm thiên hộ thế nhập vào". Thế gian và xuất thế gian vốn không thể tách rời, và những hiện tượng huyền bí dường như luôn xuất hiện quanh các bậc vĩ nhân. Một ngày nọ, ông U San Tin đến nhà ông U Kyaw Din. Vừa mới đến nơi, ông U San Tin đã đọc bài sấm truyền (tabaung) sau: "Một vòng, hai vòng, xoắn rối ren, Như búp sợi của bà Bút (Budh) rối mù, Ai là người quay sợi, để những rối rắm này, Có thể gỡ ra cho thông suốt đây." "Trước búp sợi, giữa búp sợi, Hãy để con thoi nhỏ lướt qua. Tượng Phật cụt phát hào quang, Hỡi cô Ma Khway mặc áo mẫu, Viền ngoài trang trí màu xanh lá, Giữa thêu khung xanh dương, Tiếng con thoi làm từ gỗ tếch đực, Vang vọng khắp vạn thế giới." Ông U San Tin đọc bài sấm và tiếp tục giải thích ý nghĩa, khiến ông U Kyaw Din dù chẳng hiểu mô tê gì cũng chỉ biết lắng nghe và gật đầu... "Này anh Kyaw Din, búp sợi của bà Bút dù có rối đến đâu, khi đưa vào khung cửi thì cũng sẽ được gỡ sạch thôi. Dưới thời Đức Phật này (được ví như bà Bút), anh sẽ phải dùng duy nhất con thoi 'Chánh niệm' trên khung cửi 'Tứ Niệm Xứ' để gỡ sạch búp sợi 'Vô minh' đang rối ren này đó. Khi đó, tại phía nam làng Sunlun, một khung cửi thực sự sẽ xuất hiện. Tại gò đất Rừng Tếch (Kyun-pho-kon) nơi khung cửi xuất hiện, anh sẽ thực hiện sứ mệnh hoằng pháp. Khi hoằng pháp, sẽ có sự hiện diện của hai cột trụ bằng gỗ tếch. Câu 'Tượng Phật cụt phát hào quang' có nghĩa là giáo pháp hành trì (Paṭipatti Sāsanā) vốn đã bị mai một (như tượng cụt) nay sắp sửa phục hưng trở lại. Vì vậy...