## TRANG 109

Nơi cách Thùy Tuyệt khoảng 500 [vĩ độ/độ dài] chính là ngôi chùa Thí Tảo (Hthi-saung). (Điều này được ghi lại trong bộ *Tiểu sử Chùa Shwezigon* mới do Ngài Aggamaha Pandita **U Nandavamsa Mahathera** ở thành phố Pakokku biên soạn. Các mốc thời gian về Ngài Shin Arahan nên được tiếp tục nghiên cứu thêm.)

Công cuộc hoằng pháp của Ngài **Shin Arahan**, vị Thánh Tăng Alahan, con trưởng của Đức Thế Tôn và là ân nhân của bao thế hệ người dân Myanmar, có thể nói là cao cả nhất trong lịch sử Phật giáo Myanmar. Trong văn bia tiếng Môn tại cung điện của Vua Kyansittha, có mô tả trang trọng về buổi lễ lên ngôi điện mới vào năm 463 [Miến lịch], trong đó có 4108 vị Tăng do Ngài **Shin Arahan** dẫn đầu đã cùng tụng kinh Paritta.

## TRANG 110

### Ngài Trưởng lão Pansukula (Pansukula Mahathera)

Sau khi Ngài Shin Arahan nhập Niết-bàn, vương tử của Vua Seinnyet (người từng là những vị trợ thủ đắc lực trong công cuộc hoằng pháp của Ngài Shin Arahan) cùng với các bậc đại Trưởng lão Ananda và Bodhi đã tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp. Tất cả các Ngài đều là những bậc Thánh nhân (Ariya).

Vào thời kỳ sau đó, trọng trách Phật sự được giao phó cho Ngài **Pansukula Mahathera**, chủ nhân của Ngaswe. Ngài chính là vị Tăng thống (Sasana-paing). Ngài quản lý các bậc Trưởng lão thông suốt Tam Tạng như Ngài Ananda và Bodhi để hoằng dương giáo pháp. Pháp hiệu gốc của Ngài là **Shin Silabuddhi**.

Sở dĩ Ngài được gọi là "Ngaswe Shin Pansukula" vì vị Trưởng lão này luôn có thói quen chỉ nhặt những mảnh vải từ tử thi (vải phấn tảo - pansukula) để làm y phục. Một ngày nọ, một cậu bé chăn bò tên là Ngaswe Ngal muốn tạo công đức nên đã giả chết ở nghĩa địa, dùng vải đắp lên người và bảo bạn bè đi báo tin cho vị Trưởng lão. Khi Ngài đến nhặt vải pansukula, thấy cậu bé không còn thở, Ngài liền tụng kinh Paritta và tỏa tâm từ sau khi nghe cha mẹ cậu bé trình bày. Cậu bé Ngaswe Ngal liền tỉnh dậy và đảnh lễ Ngài. Cha mẹ của cậu sau đó đã dâng cúng cậu cho vị Trưởng lão. Kể từ đó, Ngài có danh hiệu là "Ngaswe Shin Pansukula".

### Ngài Pansukula và Vua Narathu

Vì vị Trưởng lão ấy được kính trọng như cha mẹ của đất nước, nên dù không muốn, Ngài vẫn phải can thiệp vào các việc quốc sự. Nguyên do là vương tử Min Shin Saw, con trai của Vua Alaungsithu, do có hành vi bất kính với Anantathuriya và một vương phi người Ấn Độ (Kula), nên phải rời kinh đô đi lánh nạn ở vùng Htuntone Putet, phía đông Mandalay. Trong thời gian đó, người em trai là Narathu, trong lúc đưa Phụ vương đi chiêm bái chùa Shwegu, đã dùng vải siết cổ giết chết cha rồi tự mình lên ngôi. Khi nghe tin Min Shin Saw tiến quân về Bagan, Narathu đã đến khẩn cầu Ngài Pansukula: "Nếu hai anh em tranh chiến, dân chúng sẽ lầm than. Con sẽ không chống lại huynh trưởng mà sẽ nhường ngôi. Xin Ngài hãy đi thuyết phục anh con." Ngài phán: "Nếu ngươi không giữ lời, ta sẽ mang trọng tội." Vì Narathu đã thề thốt nên Ngài mới đi thuyết phục.

Narathu ra đón tiếp Min Shin Saw và trao lại cung điện. Tuy nhiên, ngay đêm đó, Min Shin Saw đã băng hà do chất độc mà người em trai đã hạ. Khi hay tin, vị Trưởng lão đến và quở trách: "Hỡi kẻ bạo chúa gian ác, ngươi chỉ nhìn thấy vinh hoa nhất thời mà chẳng hề biết

## TRANG 111

khiếp sợ hiểm họa của vòng luân hồi, ngươi cũng chẳng màng đến mặt mũi của ta." Narathu trơ tráo đáp lại: "Chẳng phải con đã giữ lời thề đưa huynh trưởng lên ngôi rồi đó sao?" Ngài phán: "Hỡi kẻ hèn hạ, không ai đồi bại hơn ngươi. Ta không muốn sống trong quốc gia của một kẻ đê tiện như vậy," nói rồi Ngài rời sang tích lan (Sri Lanka).

Vì vị Trưởng lão mà cả nước kính ngưỡng đã bị lợi dụng và rời đi, dân chúng vô cùng bất bình với nhà vua. Vị vua đó vẫn tiếp tục gây ra những điều ác đức. Ông ta cho các vũ công ăn mặc hở hang biểu diễn ngay trong chùa để ép các vị tu sĩ phải hoàn tục. Narathu, kẻ đã giết hại cha và anh, đồng thời đàn áp các bậc hiền thánh, cuối cùng đã tử nạn dưới tay người Ấn Độ (Kula). Các sử gia đã đặt cho ông ta danh hiệu là "Kulakyaminn" (Vua bị người Kula giết).

### Ngài Pansukula và Vua Narapatisithu

Trong bia ký Mahabodhi niên đại 660 thời Vua Pyu Tandaing (Pyu-tit-thinn), dòng 3-4 có ghi: "Có một vị Pansukula Mahathera đã tu sửa nơi thọ trai cổ xưa này sau thời gian dài hư hại, sau đó là Vua Thamo đã tu bổ thêm." Qua đó ta biết rằng Ngài Pansukula cũng đã đóng góp vào việc trùng tu cội Đại Bồ Đề (Mahabodhi).

Sau bốn năm trị vì của Narathu và ba năm của người con là Min Yin Naratheinkha, Vua Narapatisithu (con của Narathu) lên ngôi, Ngài Pansukula đã từ Sri Lanka trở về. Ngài lại được giao phó trọng trách hoằng pháp. Vào năm thứ 9 sau khi lên ngôi, trên đường trở về từ núi Tongwut ở phía đông Bagan sau khi chiêm bái Xá-lợi răng, nhà vua nhìn thấy một ánh sáng rực rỡ trong một khe vực. Khi sai người xuống xem thì không thấy gì, vua nghĩ rằng: 'Nơi này hẳn muốn ta xây chùa,' nên đã ra lệnh cho dân chúng gấp rút lấp đầy khe vực đó. Khi mặt đất phẳng như mặt trống thì mới xây bảo tháp được. Việc này khiến dân chúng vô cùng khổ cực.

Ngài Pansukula nghe biết chuyện đó liền phán:

"Đại vương, việc này Ngài làm tưởng là để tạo công đức, nhưng thực chất công đức chẳng thấy đâu, chỉ thấy toàn là ác nghiệp." Ngài nói rồi không thọ dụng vật thực do nhà vua dâng cúng, thực hiện việc lật úp bát (đình chỉ sự hỗ trợ đối với nhà vua). Nhà vua bất kính đáp lại: "Nếu Ngài không thọ thực của con, Ngài cũng đừng ở trên đất của con nữa. Chẳng lẽ vật thực do dân chúng dâng cúng không phải là vật thực của trẫm hay sao?" Ngài liền lên đường đến vùng Zwekyo để chuẩn bị sang Sri Lanka lần nữa.

Vị Dạ-xoa (Belu) canh giữ cổng thành Tharaba biết chuyện, khi nhà vua định ngự giá ra ngoài, vị ấy đã đứng chắn ngang trên cổng thành. Dù đã dùng bùa chú nhưng vị ấy vẫn không tránh ra. Sau khi bói toán mới biết nguyên do là vì vua đã bất kính với vị Trưởng lão, các quan đại thần mới được lệnh đến Zwekyo để khẩn cầu Ngài. Dù đã thỉnh cầu nhiều lần nhưng Ngài không trở lại mà đã vượt biển sang Sri Lanka.
