## TRANG 112

**Trưởng lão Paṃsukūla** (tiếp theo)

Sau đó, vua phải sai đại thần Turangappaccaya đi thỉnh mời vị trưởng lão bằng mọi giá. Vị đại thần đi bằng thuyền, mang theo một pho tượng Phật bằng vàng. Khi cập bến, ông liền thỉnh rằng: "Đức Thế Tôn đã ngự đến nơi này. Cầu mong Ngài Paṃsukūla hãy ngự đến." Vì không muốn trái lệnh Phật, vị trưởng lão bèn bước lên thuyền để đảnh lễ Phật.

Thừa lúc trưởng lão đang đảnh lễ, vị đại thần truyền lệnh dốc sức chèo thuyền ra khơi. Ông cũng hết lời thỉnh cầu trưởng lão hãy vì sự hưng thịnh của Giáo pháp mà ở lại. Theo bia ký 289, dòng 3, đại thần Turangappaccaya là người rất am tường Tam Tạng.

Khi về đến hoàng cung, chính đức vua đã dìu trưởng lão từ dưới thuyền lên, thỉnh vào cung và dâng cúng vật thực. Khi đi đến cửa Tarabā, vị Dạ-xoa canh cửa cũng hiện xuống đảnh lễ. Sau khi dâng cúng vật thực, đức vua thưa rằng: "Kể từ hôm nay, con xin vâng giữ giáo huấn của Ngài." Vua cũng dâng cúng năm người con trai, trong đó có hoàng tử Zeyyasura, cho trưởng lão. Khi trưởng lão khởi hành trở về, các hoàng tử cũng đi theo. Giữa đường, vị trưởng lão vẽ năm vòng tròn trên đất rồi bảo các hoàng tử quay về. Đức vua hiểu ý rằng trưởng lão muốn vua xây dựng năm ngôi bảo tháp, nên đã dùng số vàng bằng đúng trọng lượng cơ thể của mỗi hoàng tử, chi trả công xá và cho xây dựng 5 ngôi chùa đẹp, bắt đầu bằng tên "Cākyu Phayā Lha".

Ngôi chùa mà nhà vua dùng uy quyền để cưỡng ép dân chúng xây dựng một cách gấp rút chính là chùa Cūḷāmaṇi. Khi chùa hoàn thiện, vua dùng số gạch còn dư để xây thêm một ngôi chùa hai tầng ở hướng đông bắc tháp này, gần hồ Ñāntalapphat. Để ghi nhớ việc vị trưởng lão Paṃsukūla đã đứng về phía dân chúng mà lật úp bát (biểu thị sự phản đối), dân gian truyền tụng tên ngôi chùa này là "Tháp Lật Bát" (Thapeit Hmauk Phayā).

Vào năm 565 Miến lịch (1203 DL), tại nơi nhà vua quỳ xuống sám hối xin lỗi trưởng lão, vua lại cho xây dựng một ngôi tháp khác tên là "Gatdawpalin" (Ngai Sám Hối). Sợ trưởng lão lại quở trách nên vua không dám cưỡng ép dân chúng làm gấp, thế nên công trình chưa kịp hoàn tất thì vua đã băng hà. Sau đó, hoàng tử Nantaungmya kế vị và tiếp tục xây dựng cho xong.

### Paṃsukūla và vua Narathihapate

Trong lịch sử và cuốn "Lịch sử 17 ngôi chùa Bagan" của ngài Myataung Sayadaw, có nhắc đến việc trưởng lão Paṃsukūla xuất hiện vào thời vua Narathihapate (617-648 Miến lịch). (Điều này cần xem xét liệu có phải là một vị khác hay không. Cần phải nghiên cứu thêm về niên đại để xác minh về vị trưởng lão này.)

Khi xây dựng chùa Mingalazedi, vua Narathihapate (còn gọi là Taroke-pyay Min - vị vua chạy giặc Tàu) nghe lời tiên tri: "Chùa xây xong, quốc gia tiêu vong," nên đã dừng việc thi công suốt 6 năm. Khi ấy, trưởng lão Paṃsukūla đã thuyết giảng cho vua về giáo lý vô thường (saṅkhāra).

## TRANG 113

Ngài phán rằng: "Nếu thấy đống gạch dở dang này, hậu thế sẽ ghi vào sử sách chê cười ngươi là vị vua quá khiếp nhược trước cái chết và sự mất nước." Nhờ lời khuyên đó, nhà vua mới tiếp tục hoàn thành công trình.

Theo sách Sāsanālaṅkāra, thời bấy giờ mọi người đều tôn xưng trưởng lão Paṃsukūla là một bậc A-la-hán. Xem xét những lời dạy và hành động uy nghiêm của ngài trong cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti), có thể thấy rõ ngài chỉ quan tâm đến sự an lạc của chúng sinh mà không hề e sợ quyền lực quân vương. Ngài hiển thị tâm đức của một bậc chân nhân vô cùng thanh tịnh.

## TRANG 114

## Chương: Ngài Paṇḍita ở núi Ngatpyit

Sự việc cũng diễn ra dưới thời vua Narapatisithu. Khi ấy có vị Trưởng lão Paṇḍita là bậc lãnh đạo giáo đoàn trên núi Ngatpyit. Ngài là đệ tử của Trưởng lão Uttarājīva. Ngài vô cùng nghiêm cẩn trong giới luật, có thần thông quảng đại, được tin là đã đắc các tầng Thiền định và Thắng trí (Abhiññā). Đức vua cùng dân chúng hết mực kính trọng và dâng cúng những lễ vật cao quý.

Trong thời gian đó, có một nữ thí chủ tâm địa bất thiện đã âm mưu làm vẩn đục thanh danh giới hạnh của ngài. Người này giả dạng làm một nữ hành giả (yogī) đến trú ngụ ở vách đá gần chùa của ngài suốt khoảng 15 ngày. Khi trở về nhà, thị thêu dệt nên những câu chuyện thì thầm rằng ngài đã phạm giới với thị. Những người thân cận đã tìm đến báo tin cho trưởng lão. Tin đồn này lan rộng khắp kinh đô, đến tai của đức vua và đông đảo chư tăng.

Vì tin đồn ác ý ngày càng lan rộng, trưởng lão không thể dùng lời nói để thanh minh. Dù có giải thích cũng chưa chắc người đời đã tin. Do đó, ngài thỉnh mời đức vua cùng chư tăng và các hàng thí chủ đến chùa. Khi đại chúng đã tập hợp đông đủ, ngài dẫn họ từ chùa đi xuống ven sông Irrawaddy. Tại bến sông, ngài gặp một người đang mài dao bên tảng đá, ngài liền thỉnh nhận tảng đá và con dao ấy.

Trước mặt đại chúng, ngài thỉnh nguyện chư thiên hộ pháp chứng giám và lập lời thề chân thật (Saccādhiṭṭhāna):

"Nếu giới hạnh của ta có điều nhơ nhuế, nguyện cho tảng đá và con dao này khi vừa chạm nước liền chìm nghỉm ngay lập tức, và ta nguyện sẽ đọa vào bốn đường ác đạo. Nếu ta hoàn toàn trong sạch, không hề can hệ đến nữ nhân này và giới hạnh của ta thanh tịnh, nguyện cho chúng trôi nổi trên mặt nước như loài cá. Và nguyện cho ta sẽ thoát khỏi vòng luân hồi."

Sau khi lập thề, ngài thả tảng đá và con dao xuống nước. Kỳ diệu thay, tảng đá mài và con dao trôi ngược dòng nước. Đức vua cùng đại chúng vô cùng hân hoan, niềm tín thành càng tăng trưởng gấp bội so với trước kia.

Để hậu thế có thể tăng trưởng trí tuệ, đức tin và sự tinh tấn, vua Narapatisithu đã cho đục vách đá tạo thành các hang động (umeng) ở phía đông Nyaung-U khoảng 700 ta, dùng gạch đá xây dựng một ngôi chùa tên là "Chùa Kyauk-ku". Trên đỉnh đồi phía bắc ngôi chùa này, vua lại xây thêm một tháp nữa. Do việc tảng đá nổi lên (Kyauk-ku) có kèm theo cả con dao (Dhamma-pā), nên ngôi tháp đó được gọi là "Tháp Dhamma-pā". Theo ghi chép của ngài Myataung Sayadaw, hai ngôi tháp này thường được gọi chung là "Chùa Kyauk-ku Dhamma-pā".
