## TRANG 118

---

Nếu là một bậc nhân hiền chắc chắn sẽ đắc chứng đặc biệt pháp ngay trong kiếp sống này, thì dù có phải đối mặt với hiểm nguy chết chóc to lớn đến thế nào đi nữa, cũng không bao giờ có chuyện phải tử nạn. Điều này được gọi là **Ñāṇavipphāra-iddhi** (Tuệ biến mãn thần thông). Ở Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa, ta thấy ngài có những năng lực này, nên nhiều người tin rằng ngài là một bậc A-la-hán, và niềm tin đó thực sự có cơ sở.

Khi Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa đang trên hành trình hoằng đạo tại các vùng núi rừng ở Yaw, ngài đã viên tịch tại vùng Pon-taung Pon-nyar, cách thành phố Monywa khoảng 60 dặm. Ngài được an táng và trà tỳ tại chính nơi đó. Người ta nói rằng khi Đức Phật Ariya Metteyya (Di-lặc) xuất hiện, nhục thân của ngài mới được hỏa thiêu bằng thiên hỏa. (Theo cuốn sách về Ngài Kassapa của học giả U Pho Kyar, hiện nay mọi người vẫn thường đến đó để chiêm bái và gọi là Aloungdaw Kassapa).

Tuy nhiên, trong cuốn sách nhỏ "Lịch sử Aloungdaw Kassapa" do Ngài Đại đức Bhaddanta Sirisaṃvara — trụ trì chùa Myo-daung ở Taungoo, nguyên quán làng Nyaung-gan — biên soạn và phổ biến trong kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ VI, lại viết rằng: Tôn giả Shin Mahā Kassapa, sinh quán tại làng Taung-kyar (phía nam suối Manyay-kan, huyện Sagaing) dưới thời vua Min Khaung đệ nhất của triều đại Innwa, mới chính là Ngài Aloungdaw Kassapa.

Vị Tôn giả Kassapa đó đã sang Sri Lanka (Tích Lan) để học tập kinh điển. Ngài lập tự viện tại Shwe-lay ở bờ phía đông sông Chindwin để thuyết giảng. Sau đó, do đồ chúng ngày càng đông đảo, ngài đã tuần tự chuyển đến cư ngụ tại vùng núi Aloungdaw Kassapa hiện nay, sau khi đi ngang qua các vùng Kyauk-myet, A-neint, Nga-tha-yauk và 35 ngọn núi khác. Ngài được các lãnh chúa Tha-lay-pwar và Thaung-thwut hộ trì. Ngài cũng rất giỏi về y thuật. Nghe nói khi ngài viên tịch, người ta đã tạo một pho tượng bằng thạch cao dài 10 hắc tay (khoảng 5m) để tôn thờ.

Dù có cho rằng Shin Mahā Kassapa vùng Taung-kyar chính là Ngài Aloungdaw Kassapa đi chăng nữa, thì đối với Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa — vị lừng danh từ thời Bagan — chúng ta vẫn có thể hoàn toàn chấp nhận ngài là một bậc thánh giả cao thượng và phi thường, nổi tiếng là một bậc A-la-hán như đã trình bày.

### Những lời đồn thổi sai lệch của các tông phái

Ở đây có một điểm cần lưu ý: Trong các sách thực hành pháp thuật thế gian (Lokī), có ghi chép rằng một vị thầy thuộc giáo phái Gandharī Vijjā từ trên núi Zin-kyaik đã tuyên bố Paunglaung Shin Kassapa là một bậc đắc đạo theo đường lối đạo sĩ (Weizza). Có lẽ một số người đã đọc qua điều này. Tuy nhiên, xét thấy những thông tin đó không có sự thống nhất về thời đại cũng như thiếu các bằng chứng xác thực, tôi thiết nghĩ không cần phải giải thích thêm làm gì.

## TRANG 119

Điều cần đặc biệt chú ý là:

Một số vị lãnh đạo các giáo phái mang tư tưởng Đại thừa (Mahāyāna) thường liệt kê cả các vị Trưởng lão đã chứng đắc A-la-hán vào danh sách những người đắc đạo theo lối đạo sĩ thế gian. Khi các ngài còn sinh tiền, họ thường xuyên tuyên truyền rằng: "Đây là vị lãnh đạo của chúng tôi", rồi giả làm đệ tử để đến ngồi thiền cùng. Tôi đã từng chứng kiến nhiều trường hợp họ đưa vào những nghi thức giáo phái, dùng các thủ thuật đánh lừa để làm cho mọi người hoang mang, chẳng biết đâu là thật đâu là giả. Chúng ta cần phải hết sức tỉnh táo trước những hành vi bắt chước tương tự trong cách thực hành pháp hay cách nói năng của họ.

### Những sự kiện lịch sử cần biết

Trong các văn bia, sử liệu, lịch sử tôn giáo và các ghi chép cung đình, những dữ kiện liên quan đến Tôn giả Shin Kassapa được ghi nhận như sau:

Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa sống vào thời vua Narapatisithu. Vì được người dân tộc Paunglaung tôn kính nên ngài có danh hiệu là Paunglaung Shin Kassapa. Ngài đã nuôi dạy các thanh thiếu niên người Paunglaung để phụng sự giáo pháp. Truyện kể rằng khi ngài muốn sang đảo Tích Lan, Thiên chủ Sakka đã hóa thành một con hổ để cõng ngài đi. (Đến nay, tại các vùng người Palaung, ta vẫn có thể thấy các bức tượng vị A-la-hán cưỡi hổ). Có lần ngài đi Tích Lan bằng tàu thủy, giữa biển khơi tàu bỗng dừng lại không đi được, các thương buôn và hành khách đồng lòng rút thăm, và cả ba lần đều trúng vào Tôn giả Shin Kassapa. Ngài bị thả xuống biển. Một con cá sấu đã cõng ngài trên lưng để đưa đi. Khi đến Tích Lan, ngài dùng nước từ tâm (Mettā) rảy cho các vị Dạ-xoa (Yakkha) bị mù, giúp họ tìm lại ánh sáng; do đó hai anh em Dạ-xoa tên là Nga Yaman và Nga Tin Kyi đã được hiến cúng cho ngài.

Sách "Sāsanālaṅkāra" có ghi rằng ngài đã mang về từ đảo Tích Lan các mô hình Đại Bảo Tháp (Mahā Cetiya), lầu Lohapāsāda, cùng với Xá-lợi và hạt giống cây Bồ-đề. Sách cũng chép rằng ngài được tôn xưng là một bậc A-la-hán.

Trong tác phẩm **"Sāsana Vaṃsappadīpikā"**, ác nghiệp cũ khiến Tôn giả Shin Kassapa bị thả xuống biển được giải thích như sau: Vào kiếp thứ 7 về trước, ngài sinh ra trong một ngôi làng nọ, khi còn là một đứa trẻ đang tắm sông, ngài đã bắt một con chó xuống tắm và bắt nó bơi. Sau một lúc, chính ngài đã ôm con chó đó vào lòng và đưa nó lên bờ.

Theo "Lịch sử Pityakat" (Tam tạng), Tôn giả Shin Kassapa là tác giả của bản giải trình (Nissaya) cũ cho bộ chú giải **Khuddasikkhā**. Thậm chí vị cao tăng lừng danh vùng Taung-bi-lar cũng đã trích dẫn tên ngài trong phần kết của bộ **Vinayālaṅkāra-ṭīkā**. Theo lời thỉnh cầu của hoàng tử Siṅgha-vijaya,

## TRANG 120

vào năm Miến lịch 565, ngài đã biên soạn bộ chú giải **"Bodhivaṃsa-ṭīkā"** (còn gọi là Sahassaraṃsī) bằng tiếng Pāḷi. Đến nay chúng ta vẫn có thể đọc được bộ chú giải này. Dựa trên các văn bia, tên của ngài xuất hiện liên tục từ năm 534 đến năm 639, nên có thể ước đoán ngài thọ trên 100 tuổi. Việc ngài tinh thông Tam tạng và có giới hạnh cao khiết là điều vô cùng rõ ràng.

Văn bia chùa Taw-kyaung ở vùng A-neint (khắc năm 740) có ghi chép rằng có một vị **Shin Mahā Kassapa Lớn**, người cực kỳ tinh thông Tam tạng và có giới hạnh tương đồng với vị Trưởng lão Mahā Kassapa thời Phật tiền.

Văn bia tại chùa Shwe Paunglaung ở huyện Myaung, tỉnh Sagaing (khắc năm 750) ghi lại rằng ngài sinh năm 531 tại làng Kyauk-yit, huyện Myaung; tên thuở nhỏ là Nga Paunglaung Thin, pháp danh là Mahā Kassapa; văn bia còn bao gồm lá số tử vi và tiểu sử tóm tắt của ngài. Văn bia Pa-rim-ma (khắc năm 706) thì lại nói ngài là người làng Pa-rim-ma. Ngài cũng được ghi nhận là đã nhận được thọ ký trong số mười vị thánh tăng vùng Yin-mar. Sau này, ngài trú ngụ tại chùa rừng (Taw-kyaung) ở làng Kyauk-yit. Ngài cũng rất am hiểu về y thuật. Năm 577, vua Bagan (vua Nandaungmya) bị bạo bệnh, đã thỉnh ngài đến chữa trị và được bình phục; nhà vua đã vô cùng cung kính cúng dường, thậm chí còn cung thỉnh ngài che lọng trắng (biểu tượng của hoàng gia).

Theo các văn bia liên quan đến Paunglaung Shin Kassapa, trong khoảng thời gian từ năm 539 đến 634, ngài vô cùng lừng lẫy tại vương quốc Bagan, được muôn dân cung kính; ngài là người khai sáng tông phái Chùa Rừng (Taw-kyaung), thực hiện việc khai khẩn đất mới và nhận cúng dường để phát triển nông nghiệp, cũng như mở rộng các chùa rừng. Một văn bia khắc năm 606 còn ghi ngài là cháu của vị đại thần Saṅkram-ma-thu. Những dữ kiện này cần được đối chiếu và xem xét kỹ lưỡng.

Một điều cần đặc biệt lưu ý là: Một vị Tôn giả Kassapa đã từng biên soạn những tác phẩm như **Khuddasikkhā-nissaya** (Luật tạng) và **Bodhivaṃsa-ṭīkā** chắc chắn không thể là kiểu tu sĩ mang nặng tính thế tục như một số nhà sử học hiện đại lầm tưởng.
