## TRANG 124

Cuộc vấn đáp đó (theo nguyên văn) như sau:

Tại đây, xin trình bày các câu hỏi của ngài Nāguṇ-nge (Nāguṇ Nhỏ) dành cho ngài Nāguṇ-gyi (Nāguṇ Lớn). Vào một thời nọ, tại kinh đô Pukkam (Bagan), một vị tỳ-kheo tên là **Nāguṇ-nge** đã thưa hỏi ngài **Nāguṇ-gyi** về câu hỏi liên quan đến **Ariyuppatti** (sự đắc chứng quả vị Thánh) mà ngài đã từng thấy trong các bản chép tay cổ.

Câu hỏi là:

**2.** Này hiền giả Sơ quả (Sotāpanna), hiền giả nói rằng chắc chắn mình đã từng thấy Niết-bàn, vậy khi ấy hiền giả thấy một loại hương vị và ăn một loại hương vị khác phải không? Có phải từ hai cái này đứng dậy và trở lại hai cái này không?

**3.** Có phải đã thoát khỏi ba cái này và hiện kinh ba cái này không?

**4.** Có phải thực hiện cả bốn cái cùng một lúc và thoát khỏi cả bốn cái đó không?

“Nếu có thể phân định và giải đáp được những câu hỏi thâm sâu này, như cầm viên ngọc quý đặt trong lòng bàn tay, thì người đó xứng đáng là bậc Đã-đến-bờ-kia (Pāragū), tỏa rạng ngàn tia sáng như mặt trời, là bậc am tường về bến bờ Niết-bàn (Nibbāna). Tôi rất muốn tìm gặp một người như vậy trong khắp cõi này, nếu dễ xin hãy giải đáp theo đúng kinh điển.” Đó là lời thỉnh cầu giải đáp câu hỏi đã được ghi lại.

#### Lời giải đáp của ngài Nāguṇ-gyi về cách thấy Niết-bàn

Ngài Nāguṇ-gyi đã đáp lời rằng: Này đệ tử Nāguṇ-nge, về câu hỏi “thấy một loại hương vị và ăn một loại hương vị khác phải không”, thì đối với bậc hữu học (Sekkhapuggala) khi thấy Niết-bàn sẽ hưởng được **Pháp vị (Dhammarasa)**, còn đối với bậc vô học (Asekkhapuggala) sẽ hưởng được **Giải thoát vị (Vimuttirasa)**, này hiền giả.

Về câu hỏi “từ hai cái đứng dậy và trở lại hai cái không”, thì người thấy Niết-bàn sẽ từ bỏ **Tướng (Nimitta)** và **Sự vận hành (Pavatta)** để trở lại với **Vô vi cảnh (Asaṅkhatārammaṇa)** và **Tục đế cảnh (Sammutisaccārammaṇa)**, này hiền giả.

Về câu hỏi “thoát khỏi ba cái và hiện kinh ba cái không”, thì người thấy Niết-bàn sẽ thoát khỏi ba thời (Quá khứ, Hiện tại, Vị lai) và hiện kinh đồng thời cả ba loại Niết-bàn là **Phiền não Niết-bàn (Kilesa-nibbāna)**, **Uẩn Niết-bàn (Khandha-nibbāna)** và **Vô vi Niết-bàn (Asaṅkhata-nibbāna)**, này hiền giả.

Về câu hỏi “thực hiện cả bốn cái cùng một lúc và thoát khỏi cả bốn cái không”, thì người thấy Niết-bàn sẽ thực hiện đồng thời bốn phận sự là **Khổ trí (Pariññeyya)**, **Đoạn trí (Pahātabba)**, **Chứng trí (Sacchikātabba)** và **Tu trí (Bhāvetabba)** (tức 4 việc: Biết, Đoạn, Chứng, Tu), để từ đó giải thoát khỏi Sắc - Danh, và Lạc - Khổ, này hiền giả.

Ngài kết luận: “Nếu cái thấy đúng như vậy thì đó chính là người đã thấy Niết-bàn.” Khi ấy, ngài Nāguṇ-nge càng thêm lòng tín thành đặc biệt đối với ngài Nāguṇ-gyi, vượt xa lòng kính tín của hạng phàm phu.

## TRANG 125

Ngài Nāguṇ-gyi đó, vào lúc lâm chung trên giường bệnh, đã trăng trối với các đệ tử rằng: “Khi thầy viên tịch, các con hãy thỉnh ba hồi chuông.” Lành thay! Lành thay! Lành thay!

### Các bậc đắc Thiền và Thần thông thời Bagan

Ngoài những vị đã nêu, vào thời Bagan còn có những bậc xuất chúng khác nổi danh về việc đắc Thiền và Thần thông. Những vị đó gồm có:

#### Ngài Nan-taung-mya Sayadaw

Vị lãnh đạo tinh thần (Sayadaw) của vua Nantaungmya tại thành Pyay, vào một ngày nọ, ngay khoảnh khắc đức vua Sinbyushin (Chủ nhân voi trắng) ở thành Bago băng hà, ngài đã trực giác biết được và thốt lên: “Ôi! Cha tôi!”. Một người đệ tử đứng gần đó đã nghe thấy và ghi nhớ lại ngày giờ. Sau đó, khi tin tức truyền đến, ngày giờ đức vua băng hà hoàn toàn trùng khớp với thời điểm ngài đã ghi nhận.

Ngoài ra, có lần ngài đang ở một nơi không thể nhìn thấy bờ vực, nhưng ngài đột nhiên thốt lên: “Ôi, một con bò đã ngã xuống vực chết rồi!”. Những người nghe thấy đã đi kiểm chứng và thấy đúng như lời ngài nói. Sự việc này đã được ghi chép lại trong Sāsanālaṅkāra.

#### Ngài Tet-thay-gyi

Trưởng lão Tet-thay-gyi ở Bagan cũng là một bậc có thần thông, hàng ngày đều có vị thần Mahagiri đến hầu cận, và khi có việc cần ngài đều có thể sai bảo vị thần này. Trong sách **Visuddhimagga Dīpanī** cũng ghi nhận ngài là bậc đắc Thiền và Thần thông.

Nếu xét đến sức mạnh của giáo pháp học thuật (Pariyatti Sāsana) và các đền tháp nổi tiếng thế giới vào thời Bagan, có thể ước đoán rằng dù không được ghi chép lại, chắc chắn đã có rất nhiều bậc Thánh Ariya đắc Thiền và Thần thông. Cũng có thể còn nhiều ghi chép mà chúng ta chưa tìm thấy được. Sách Sāsanālaṅkāra ghi rằng: “Dưới thời vua Anawrahta, ngay cả bậc A-la-hán cũng có đến cả ngàn vị, còn các bậc Sơ quả, Nhị quả, Tam quả thì nhiều không kể xiết.”

## TRANG 126

# 5- Các bậc A-la-hán và bậc xuất chúng thời kỳ Pinya

### Ngài Shin Dibba-cakka Rahantā-htway

Sau khi vương triều Bagan sụp đổ, tại các vùng như Myinsaing, tình hình trở nên loạn lạc như bó tre bị tháo lạt. Đạo Phật cũng theo đó mà suy vi. Đây là thời kỳ mà các tu sĩ tà đạo Ariyi (thuộc Đại thừa) vốn đang lẩn trốn nơi rừng sâu lại bắt đầu trỗi dậy. Vị vua Thihathu (Chủ nhân của một con ngựa trắng) đã xây dựng thành Panya (Pinya) vào năm 674 (Miến lịch). Vua có ba người con trai là Uzzana, Kyawswa và Athinhkaya Saw Yun. Người ta thấy rằng có rất nhiều tu sĩ Ariyi đã tìm đến nương tựa dưới trướng người con út Saw Yun như những thuộc hạ. Họ trở thành bạn nhậu của hoàng tử. Khi hoàng tử say khướt không thể đi lại, các tu sĩ Ariyi này đã dùng cáng khi هنگ hoàng tử về (Xem thêm trong các tài liệu phân tích về Thenu).

Nền tôn giáo thời kỳ đó một lần nữa trở nên hỗn tạp với các yếu tố Đại thừa. Nhờ vào phước báu của đất nước Myanmar và uy đức của giáo pháp, một bậc xuất chúng đã xuất hiện để cứu vãn tình hình tương tự như ngài Shin Arahan trước đây. Vị đó chính là **Ngài Shin Dibba-cakka Rahantā-htway**. Đúng như tên gọi **Dibba-cakka** (Thiên nhãn), ngài là một vị Trưởng lão A-la-hán đắc Thần thông. Các bộ sử Phật giáo ghi rằng, theo lời thọ ký của Đức Phật và với sự trợ giúp của Thiên chủ Sakka (Đế Thích), ngài đã từ thành Vesālī (Tỳ-xá-ly) du hành sang đây. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chi tiết này có phần mang tính huyền thoại hóa. Bởi vì vào thời kỳ đó, Vesālī không còn là nơi có thể xuất hiện bậc A-la-hán như ngài Shin Dibba-cakka nữa. Cuối thế kỷ 12, tình hình Phật giáo tại Ấn Độ vô cùng bi đát. Theo District Gazetteer của Mr. Morley (4, 26), năm 1193 là thời kỳ mà hàng ngàn tu sĩ đã phải đổ máu và Phật giáo hoàn toàn bị nhổ tận gốc rễ (theo Lịch sử Đức Phật của ngài U Nārada Me-gha-wa-ti, trang 49). Tuy nhiên, nếu xét theo văn phong truyền thống thì vẫn ghi là Vesālī thuộc Trung Ấn.

Dù thế nào đi nữa, việc một vị A-la-hán tên là Shin Dibba-cakka đã hoằng dương giáo pháp vào thời kỳ đó là một sự thật hiển nhiên. Chúng tôi xin tóm tắt lại theo nội dung trong sách Vaṃsadīpanī như sau: