## TRANG 148

Kiến thức về pháp học (Pariyatti) của vị Thiền sư ấy quả thực không còn gì để bàn cãi, và điều này cũng được đông đảo mọi người công nhận. Do đó, tôi sẽ chỉ tuyển chọn và trình bày những phương diện tu tập (Paṭipatti) ẩn khuất nhưng đầy lòng tịnh tín của Ngài.

### Việc tìm kiếm hai dấu chân Phật (Saccabandha)

Vào một thời nọ (tầm khoảng năm 1000 niên lịch Miến Điện), có người dâng tấu lên vua Thalun đề nghị tìm kiếm hai dấu chân Phật tại vùng sông Mann vốn đã bị thất lạc từ nhiều năm qua. Nhà vua lấy làm tâm đắc nên đã khởi thân đi tìm thánh tích này. Các bậc cao tăng như Ngài Thiền sư **Anantadhaja**, Ngài Thiền sư **Ariyālaṅkāra** và Ngài Thiền sư **Tilokālaṅkāra** cũng đi cùng đoàn. Đoàn khởi hành từ Hoàng thành Ava tiến về Minbu, băng rừng lội suối, leo đèo lội bộ tìm kiếm ròng rã nhiều ngày. Sau một thời gian, trong lúc đoàn đang tạm nghỉ chân tại làng Mashet gần khu vực dấu chân Phật, vào một đêm nọ, Ngài Thiền sư Taung-phila đã nằm mộng.

Trong giấc mộng, có một người đàn ông đi cùng một con chó đen lớn đến gặp Ngài và hỏi: "Việc các Ngài đến đây thật là nguy hiểm. Rừng thiêng nước độc, cầm thú dữ tợn rất nhiều. Tại sao các Ngài lại muốn đến đây?". Ngài đáp rằng có các tài liệu cổ ghi chép về hai dấu chân Phật mà các vị minh quân thời trước vẫn thường đến tri kỷ, nên Ngài đến để tìm kiếm. Khi đó, người thí chủ thưa: "Nếu vậy, xin hãy đi theo con đường mà con chó đen này đi vào rừng, các Ngài sẽ tìm thấy". Ngài bừng tỉnh giấc.

Sau khi thuật lại giấc mộng cho ba vị đồng hành, các Ngài cùng suy xét về việc Thiên tử Vissakamma (Tỳ-văn) từng hóa thân thành chó đen để dẫn đường trong thời kỳ giáo pháp suy tàn tại thành Bārāṇasī. Ngày hôm sau, họ tiến sâu vào rừng để tiếp tục tìm kiếm. Đúng như giấc mộng, các Ngài đã thấy một con chó đen lớn đi phía trước dẫn đường cho đến tận nơi có dấu chân Phật rồi mới biến mất.

Khi các Ngài đến được bờ suối Mann, một vị dạ-xoa (Yakkha) hiện thân rõ rệt ra chào hỏi và tận tình chỉ dẫn vị trí chính xác của hai dấu chân Phật. Các Ngài đã nghỉ đêm trên đỉnh núi đó. Khi Ngài Thiền sư Taung-phila tụng đọc giáo pháp **Paṭṭhāna** (Thuyết Pháp Duyên Hệ), chư thiên đã tụ tập đến nghe pháp. Ngài hỏi vị thiên đại diện ở gần đó: "Ngươi là ai?", vị ấy thưa: "Con là một vị chư thiên **Sotāpanna** (Bậc Thánh Dự Lưu)". Ngài hỏi tiếp: "Ngươi có từng gặp Đức Thế Tôn không?", vị ấy đáp: "Dạ có". Ngài lại hỏi: "Kinh **Paṭṭhāna** mà ta đang tụng đây có đúng với lời Phật dạy không?".

## TRANG 149

Vị chư thiên đáp: "Giống như cá mắm thối được bao bọc bởi nhiều lớp lá, thì lớp lá ngoài cùng cũng sẽ có mùi giống hệt vậy". Ngài liền quở: "Ngươi tự xưng là chư thiên **Sotāpanna** mà sao lời lẽ lại thô thiển như thế. Kinh **Paṭṭhāna** ta tụng hoàn toàn đúng với lời Phật dạy. Nếu lời ta nói là sai, nguyện cho luân xa thiên lôi giáng xuống đầu ta".

Khi đó, vị chư thiên liền thưa: "Con quả thật là bậc **Sotāpanna**. Kinh pháp **Paṭṭhāna** của Đại đức cũng hoàn toàn đúng với lời Phật dạy. Con chỉ vì muốn Đại đức nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ nên mới mạo muội thưa như vậy, xin Đại đức rộng lòng tha thứ", rồi vị ấy biến mất.

Sau đó, Ngài lấy tấm y Pāṃsukūla (y phấn tảo) đắp lên dấu chân Phật và phát nguyện: "Nếu con chắc chắn sẽ thành Phật trong vị lai, xin cho 108 tướng hảo của dấu chân Phật hiện rõ trên tấm y này". Tấm y bỗng nhiên cuộn cao lên như hình chim hạc. Ngài giải điềm rằng: "Cần phải nỗ lực (Kyoe), nhưng sẽ còn lâu (Kyar)". Sau khi dùng sợi chỉ đo đạc kích thước của hai dấu chân Phật mang về, Ngài đã dâng lên để đức vua tôn thờ.

### Nếu sợ hãi, hãy ở rừng một mình

Câu chuyện về việc Ngài Thiền sư Taung-phila trên đường trở về từ thánh tích dấu chân Phật đã đến thăm Ngài Thiền sư Shwe-u-min đã đi vào sử sách. Ngài Thiền sư Shwe-u-min bấy giờ thường sống ẩn dật tại thành Pakhangyi với duy nhất một người nam cư sĩ phụ tá (Kappiya). Phân đoạn gặp gỡ giữa Ngài Thiền sư Shwe-u-min đạo hạnh và Ngài Thiền sư Taung-phila vô cùng thú vị và đầy sự tịnh tín. (Chùa Shwe-u-min nằm ở phía bắc thành phố).

Tôi xin trích dẫn nguyên văn đoạn này từ tác phẩm nổi tiếng "Sīlavisodhanī" (trang 85-88) của Ngài Thiền sư Namaw đời thứ ba, hiệu là Đại đức **Vinandāsabha**, viết vào năm 1199:

[ Các vị Thiền sư trụ trì chùa Maṇiratana, chùa Pubbārāma và Ngài Thiền sư Shwe-u-min hiệu là **Jambudhaja** ở Pakhang đều là thầy của tất cả các bậc giáo thọ sư đương thời. Về mặt kinh điển, không ai vượt qua được các Ngài; kiến thức của các Ngài vô cùng sâu rộng và xác thực.

Dưới triều vua Thalun, Ngài Thiền sư **Taung-phila-kyaw**, quốc sư của đức vua, đã đích thân tìm đến hang động Wak-kya ở Pakhang Sāgara – nơi Ngài Thiền sư hiệu là **Jambudhaja**, người đã soạn thảo các bộ Chú giải (**Aṭṭhakathā**) và Bản dịch (**Nissaya**) cho **Năm bộ Luật** (**Vinaya**), đang cư ngụ. Ngài Taung-phila đến mang theo nhiều lễ vật với ý định: "Ta sẽ đến đối chiếu bản dịch **Vinaya Nissaya** do ta soạn với bản của vị ấy". ]

## TRANG 150

Khi đó, Ngài Shwe-u-min đang sống với đồ dùng thanh bạch, chỉ có một người đệ tử cư sĩ phục vụ. Thấy vị Quốc sư cùng đông đảo tùy tùng đến thăm mà trong hang không có gì để trải làm chỗ ngồi trang trọng, Ngài đã lấy tấm **Cammakhaṇḍa** (tấm da lót ngồi) của mình ra phủi bụi rồi trải xuống mời khách.

Hai bậc trí giả đã chào hỏi nhau một cách thân tình, chân thành và đầy trách nhiệm. Sau khi kết thúc những lời thăm hỏi xã giao (**Sāraṇīyakathā**), vị Quốc sư nói: "Trông Ngài có ít người tùy tùng quá. Xin Ngài đừng sợ hãi (khi sống nơi hoang vắng này)". Ngài Shwe-u-min liền đáp lại: "Chính vì sợ hãi nên tôi mới ở nơi rừng sâu với ít người thế này". Ngài Quốc sư nghe vậy liền thầm nghĩ: "Ồ, hóa ra ta lại là kẻ không biết sợ (sinh tử luân hồi) sao?".

Sau đó, Ngài Quốc sư đích thân cầm các lễ vật dâng cúng và thưa: "Bạch Đại đức, đây là bộ y, là vật phẩm cao quý nhận được từ đức vua, giống như tấm y **Dukuṭa** (y tăng-già-lê hai lớp) mà Đức Thế Tôn đã ban cho Ngài **Mahā Kassapa**. Xin Ngài hãy thọ dụng để làm lợi lạc cho vòng luân hồi". Ngài Shwe-u-min nhận lấy bằng tay rồi nói: "Sādu, Sādu! Tôi xin cúng dường lên bảo tháp Shwezigon", rồi đặt sang một bên. Đối với tất cả các vật phẩm khác được dâng cúng, Ngài đều thực hiện tương tự. Thấy vậy, Ngài Quốc sư tự nhủ: "Ồ, vì ta là Quốc sư (được vua sùng bái) nên vị ấy có chút e dè về vật dụng của ta (nghi ngại về mặt **Luật** tịnh vật) nên mới làm như vậy". Tuy nhiên, Ngài Quốc sư không hề nảy sinh tâm sân hận hay tự ái.

### Dùng Pháp để khai thị

Về phần Ngài Shwe-u-min, Ngài tâm niệm rằng: "Vị Đại đức này tuy là Quốc sư của đức vua nhưng đã không quản ngại thân chinh đến đây để cúng dường ta với rất nhiều lễ vật. Ta không có vật chất tương xứng để đáp lễ, vậy ta sẽ dùng lời giáo giới (**Anusāsanī**) cao quý để cúng dường lại Ngài, giúp Ngài có thể buông bỏ lợi dưỡng và tùy tùng để tìm cầu lợi ích của việc độc cư nơi lâm dã". Ngài nói như vậy không phải vì ghét bỏ vật dụng dâng cúng, mà mang một ý nghĩa khác: "Tuy đã đắc được thân phận Sa-môn khó đắc, nhưng nếu cứ mãi đắm mình trong danh xưng Quốc sư thì chẳng có lợi ích gì. Ta phải giúp Ngài tìm cầu cái thực sự có ích".

