## TRANG 151


95

Sau đó, Ngài (**Shwe Umin Sayadaw**) đã mượn và xem bản chú giải Luật Tạng (Vinaya Nissaya) do Ngài (**Taungphila Sayadaw**) biên soạn, rồi ngẫm nghĩ rằng:

"Bản chú giải do ta soạn thì quá rộng (chi tiết), còn bản của vị này lại súc tích. Chỉ cần mức này thôi cũng đủ làm chỗ nương tựa cho hậu thế rồi. Nếu tồn tại cả hai bản, giống như trong thế gian có hai đức Phật cùng xuất hiện đồng thời, chúng sinh sẽ chỉ tranh cãi xem vị Phật nào cao quý hơn, dẫn đến tranh chấp vô ích mà không mang lại lợi lạc gì." 

Nghĩ vậy, Ngài đã mang bản chú giải do chính mình biên soạn đến trước bảo tháp và thiêu hóa để cúng dường, rồi trở về.

Sau đó, một vị cư sĩ hộ độ đi đến gần Ngài **Shwe Umin** và hỏi rằng: "Bạch Ngài, trong Giới luật có dạy rằng khi một người có đức tin dâng cúng tịnh tài, vị Tỳ-kheo không được từ chối mà không thọ dụng, hoặc không được đem cho người khác ngay trước mặt người thí chủ. Nếu làm vậy là phá hủy đức tin của họ, gọi là phạm lỗi '**Saddhādeyya Vinipātana Dukkaṭa**' (tội ác tác do làm hỏng vật phẩm cúng dường bằng đức tin) có đúng không? Tại sao khi đức vua (vị thầy của nhà vua) đích thân đến dâng cúng tịnh vật, Ngài lại không ngần ngại mà đem cúng dường vào tháp Shwezigon ngay trước mặt người? Chẳng lẽ Ngài không giữ gìn (lòng tin của thí chủ) hay sao?"

Ngài đáp rằng: "Này thiện nam, ta có giữ gìn đấy chứ. Ta đang giáo huấn thầy của ngươi đó thôi. Nếu từ đây trở về mà thầy của ngươi vẫn dám bước vào ngôi chùa Sitgu Lay-tat-gyi (nơi ông ấy ở) thì ông ấy quả là bậc trượng phu (người có bản lĩnh phi thường) trong thiên hạ."

(Trong sách Sīlavisodhanī chép rằng Ngài **Shwe Umin** là bậc đàn anh; còn sách Sāsanālaṅkāra lại nói hai Ngài bằng tuổi nhau.) Sau khi hai vị Đại Trưởng lão lừng danh trong lịch sử Giáo hội đàm đạo và chào hỏi thân thiết, lúc Ngài Taungphila xuống chùa trở về, Ngài **Shwe Umin** đi tiễn. Khi đó, Ngài **Taungphila Sayadaw** – vốn là Quốc sư – đã khiêm cung nói rằng:

"Tôi là Quốc sư. Xin hiền hữu hãy đi phía trước." Ngài nói vậy vì sợ rằng mọi người sẽ nghĩ Ngài tự phụ vì là thầy của vua mà đi trước. Ngài **Shwe Umin** cũng thưa lại:

"Hiền hữu là Quốc sư, xin mời đi trước." Ngài đáp lời như vậy vì lo rằng người ta sẽ nghĩ Ngài không tôn kính Quốc sư nếu Ngài bước đi phía trước.

Những lời đối đáp thanh cao và khiêm nhường giữa hai bậc vĩ nhân này đã trở thành một giai thoại đẹp đẽ, một dấu ấn cát tường trong lịch sử Giáo hội.

Cách hành xử, sự giáo hối đầy văn minh của hai bậc trí giả tài đức, và cách vị được giáo hối học tập một cách cung kính, nhu nhuyễn, không màng đến danh dự thế gian, thật là điều đáng tán dương khôn xiết.

Sau khi trở về, Ngài **Taungphila Sayadaw** cảm thấy hổ thẹn vì danh vị Quốc sư cư ngụ nơi làng mạc (Gāmavāsī), nên Ngài đã quyết định đi vào rừng sâu, tìm nơi tĩnh mịch tại khe núi phía Đông dãy núi Minwun (nay là núi Sagaing).

## TRANG 152


Ngài đã vào ẩn tu tại khu rừng **Taungphila**. Đó là ngày rằm tháng Táp-tu (Tabaung), năm 1000 theo lịch Myanmar, khi Ngài vừa tròn 60 tuổi.

Hai anh em nhà vua vì muốn tìm Ngài để cúng dường, đã hứa rằng "ai tìm thấy Ngài trước sẽ được xây dựng chùa". Cuối cùng, **Min-ye-kyaw-swa** (em trai vua **Thalun**) đã tìm thấy Ngài và được phép xây dựng ngôi chùa vàng bốn tầng Jetavana để dâng cúng. Vào năm 1003, Ngài cũng cho xây dựng một bảo tháp để thờ phượng. Tương truyền rằng mỗi tháng bốn lần, chư thiên thường hiện xuống dâng vật phẩm cúng dường lên Ngài.

### Một đêm với người thiếu nữ

Thời gian Ngài **Taungphila** tu hành trong rừng, đã xảy ra một sự kiện kỳ lạ đến mức khó tin. Ở đời, bất kể công việc nào cũng thường nảy sinh những khó khăn không ngờ tới. Những khó khăn đó có khi xuất hiện từ những nơi không ai ngờ, như câu nói "lửa bùng lên từ hũ nước cúng". Không lâu sau khi Ngài vào rừng ẩn tu, một trở ngại hy hữu đã xuất hiện, thử thách bản lĩnh của Ngài.

Lúc bấy giờ, vùng Sagaing, Pinya và Inwa đang trải qua trận hạn hán trầm trọng. Cả đất nước lâm vào cảnh thiếu hụt lương thực. Sự bất lương gia tăng, dân chúng không ai dám đi lại vào những giờ giấc bất thường.

Vào một buổi hoàng hôn mờ ảo, có một cô gái tóc tai rũ rượi, quần áo rách rưới, hớt hải chạy về phía chùa rừng **Taungphila**. Dáng vẻ cô thật đáng thương, nhưng diện mạo và trang phục trông rất khác biệt. Lúc đó, Ngài vừa rời khỏi nơi đi kinh hành gần hồ nước giữ nước núi chảy xuống và đang chuẩn bị vào lễ bái trước tượng Phật, thì cô gái chạy xộc tới như muốn ôm chầm lấy Ngài, miệng kêu cứu: "Bạch Ngài, xin cứu mạng con!" Dù mặt trời đã lặn, nhưng ánh trăng mờ vẫn đủ để nhìn rõ hình dáng tội nghiệp của cô gái. Ngài khẽ thốt lên: "Ôi... thật là khổ nạn."

Cô gái vừa khóc vừa thưa: "Con gặp nạn giữa đường, xin Ngài cho con được ở lại chùa đêm nay." Ngài rơi vào tình cảnh khó xử: đuổi một người đang gặp nạn ra giữa rừng sâu núi thẳm đêm hôm thì không đành, mà nhận cho ở lại chùa thì lại trái với quy tắc.

Ngài thốt ra lời: "Chùa của bậc tu hành, phụ nữ ở lại sao cho tiện," nhưng trong tâm Ngài biết rõ lúc này không thể chối từ, nên vô cùng bối khoăn.

## TRANG 153


97

"Chỉ một đêm nay thôi, bạch Ngài," tiếng nói của cô gái xen lẫn tiếng nấc, chất chứa sự khẩn cầu thiết tha.

Ngài im lặng hồi lâu, thở dài suy nghĩ. Sau cùng, Ngài tìm ra một giải pháp để an lòng và cho phép cô được ngủ ngoài hành lang phía ngoài chùa (Samyin). Sau khi sắp xếp chỗ nghỉ, Ngài đi lên sân bảo tháp **Taungphila** để lễ Phật, hồi hướng công đức và trải lòng từ đến chư thiên hộ trì núi rừng.

Dù không muốn trở lại ngôi chùa nhỏ nhưng cũng không thể đứng mãi bên ngoài, bước chân kinh hành của Ngài đã không còn giữ được nhịp đều đặn như trước. Cuối cùng, Ngài bước vào chùa, chỉ nói vỏn vẹn: "Này cô, hãy ngủ ở đó đi", rồi cài then cửa thật chặt, ở phía trong bắt đầu hành thiền quán tưởng. Nhưng tâm Ngài không được thanh tịnh như mọi khi. Hơi thở ra vào trở nên dồn dập hơn. Ngài tự trấn an rằng "mọi chuyện xảy ra đều có lý do tốt đẹp của nó", rồi thắp một ngọn đèn dầu treo giữa phòng. Ngài quyết tâm tỉnh giác không ngủ suốt đêm nay, vì Luật Tạng dạy rằng: "Tỳ-kheo không được ngủ cùng dưới một mái nhà với phụ nữ."

Ngài tự nhủ: "Vì ngươi đến mà ta phải thức trắng đêm quán Pháp", rồi Ngài thu thúc tâm ý, chuẩn bị cho một đêm hành thiền. Dù trong tu tập, mỗi khi gặp khó khăn là một cơ hội để tiến hóa, nhưng vượt qua được những thử thách này quả thực không hề dễ dàng. Chỉ khi có được thành trì nhẫn nại (Khanti) vững chắc mới có thể đứng vững.

Vừa lúc Ngài bắt đầu đạt được định tâm thì có tiếng đập cửa. Cô gái vì quá sợ hãi và lạnh lẽo, run rẩy xin được vào trong nhà ngủ. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, lòng bi mẫn đối với một chúng sinh đang gặp khổ nạn đã chiến thắng, Ngài đành cho cô vào. Lần này Ngài lại đi ra ngoài hành lang để ngồi thiền.

Nhưng chẳng bao lâu, cô gái lại kêu sợ không dám ngủ một mình nên Ngài phải vào lại bên trong.

"Cô... cứ ở yên đó, đừng có nói năng gì thêm nữa!" Ngài chỉ cho cô một góc phòng rồi quát lên bằng giọng cứng cỏi để che giấu sự bối rối. Cô gái co rùm lại trong một góc chùa, cố gắng dùng tấm áo rách và chiếc sà-long cũ kỹ để che đậy thân mình. Dưới ánh đèn dầu mờ ảo, dù Ngài không chủ ý nhìn, nhưng đôi mắt to tròn long lanh như mắt nai của cô gái trẻ trong độ tuổi xuân thì vẫn hiện rõ trước mắt.

Ngài đành quay mặt đi, xoay lưng lại và tập trung theo dõi hơi thở ra vào như đang kéo một sợi dây thừng. Dù rất muốn nằm xuống hay đi kinh hành cho đỡ mỏi, nhưng...