## TRANG 160

Đó chính là linh hồn đang mải mê tìm kiếm một điều gì đó để hiện thực hóa. Một khi cái tâm ấy đã ưa thích, nó sẽ dấn thân không lùi bước. Ý nghĩ đó có thể hủy diệt cả thế giới, nhưng cũng chính nó là thứ có thể kiến tạo nên một thế giới mới.

(Trích Trung Bộ Kinh, Kinh Upāli và Kinh Pháp Cú)

Đối với đời sống của một hành giả, cái tâm ấy có khả năng tạo ra những biến chuyển kỳ diệu một cách dễ dàng. Những thế lực hùng mạnh của cõi thế gian (Loka-yatta) – vốn là những kẻ luôn kéo ghì chúng sinh trong vòng luân hồi – khi hiểu thấu mãnh lực của tâm (aññā), họ sẽ tận dụng những điểm yếu để tâng bốc, đe dọa hoặc mê hoặc nhằm lôi kéo hành giả.

Do đó, đối với một hành giả, sự chướng ngại không chỉ đơn thuần là chuyện ma nhát quỷ nhương, mà nó giống như một ván cờ vây hay cờ tướng, đầy rẫy những cạm bẫy tinh vi đánh vào những chỗ sơ hở để từng bước thâm nhập. Tuy nhiên, dù vô minh có to lớn và dày đặc đến đâu, nó cũng không bao giờ có đủ sức mạnh bằng minh (vijjā). Dù các chướng ngại có nhiều đến mấy, dù những chiêu trò lừa mị có xảo quyệt đến đâu, ta cũng không cần phải bận tâm. Nếu có thể nhận được sự trợ giúp từ những nguồn năng lượng thuận tự nhiên, ta có thể dễ dàng nghiền nát và đập tan mọi trở lực để giành lấy chiến thắng. Chẳng phải một thành phố dù rộng lớn đến đâu cũng có thể bị thiêu rụi thành tro bụi chỉ trong chớp mắt bởi một que diêm nhỏ bé đó sao?

Khi một hành giả có niềm tin kiên cố và nắm bắt được một nguồn năng lượng tự nhiên nào đó, những nguồn lực vô biên cùng bản chất trong khắp các cõi giới sẽ tuôn chảy mãnh liệt như đê vỡ, giúp hành giả dẫm nát và tiêu diệt kẻ thù. Chính hành giả sẽ phải kinh ngạc trước thực tại đó. Chẳng phải Đức Phật toàn giác cũng đã từng sử dụng và phô diễn những nguồn năng lượng tự nhiên vô song và không giới hạn này đó sao? Điều đáng tiếc là chính các hành giả thường không nhận diện được đâu là kẻ thù, đâu là bạn đồng hành, rồi tự mãn rằng “ta đang làm việc tốt” mà sinh lòng cao ngạo, thiếu hiểu biết, thiếu đức tin và sống hờ hững. Chính lúc đó, trái tim của hành giả đã rơi vào tay kẻ thù. (*“Này các Tỳ-kheo, kẻ còn chấp ta là đang bị Ma vương trói buộc”* - Kinh Yavakālāpī, Tương Ưng Bộ 4, trang 410).

### Giáo pháp đầy rẫy hiểm nguy

Giáo pháp Vô ngã (Anatta) tràn đầy những hiểm nguy. Ngay từ khi hạt giống mới nảy mầm, sâu bọ đã chực chờ cắn phá. Trong một thế giới vốn đầy rẫy bản ngã (Atta), người gieo hạt giống Vô ngã chính là Thái tử Siddhattha.

Ngay cả phụ hoàng của Ngài cũng không mong muốn Ngài thành Phật. Vì mong mỏi con mình trở thành một vị Chuyển Luân Thánh Vương, đức vua Tịnh Phạn đã vô tình tạo ra một “điểm yếu” để các thế lực chướng ngại bám vào.

## TRANG 161

Chính bản thân đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cũng không hề hay biết điều này. Tuy nhiên, những bậc có tuệ nhãn đã nhìn thấy rõ. Họ đã sớm sắp đặt thế trận và thâm nhập vào. Khi ấy đức vua Tịnh Phạn đã làm gì? Ông đã tính kế để Siddhattha không thể thành Phật. Ông vây quanh Thái tử bằng các cung phi, nhạc nữ, những người hầu hạ khéo léo để che mắt Ngài. Ngài bị bao bọc bởi tầng tầng lớp lớp mỹ nữ, cốt để dìm Ngài thật sâu trong dục lạc thế gian.

Đức vua Tịnh Phạn cứ ngỡ mình đang làm theo ý định của riêng mình, nhưng thực chất ông đã trở thành công cụ cho kẻ thù mà không hề hay biết.

Lại nói về đạo sĩ Koṇḍañña (Kiều-trần-như), người hết sức tin tưởng vào kiến thức Vệ-đà của mình và đặt trọn kỳ vọng vào Thái tử. Với niềm tin tuyệt đối rằng “Siddhattha chắc chắn sẽ thành Phật”, ông đã chịu khổ hạnh trong rừng hơn ba mươi năm để hộ trì Bồ-tát, vậy mà ngay sát thời điểm Ngài chuẩn bị thành đạo, ông lại quay lưng bỏ đi. Sự thay đổi của Koṇḍañña diễn ra quá nhanh chóng; dù là người có tri thức thế gian và nghị lực phi thường, nhưng vì sự chấp thủ (điểm yếu) vào con đường khổ hạnh cực đoan (Attakilamathānu-yoga) đang thịnh hành thời bấy giờ, ông đã vô tình hành động đúng theo ý đồ của thế lực chướng ngại.

Thêm vào đó, ngay cả chính vị Bồ-tát cũng có lúc khởi lên một niệm sai lầm, hoặc nói cách khác, do sự dẫn dụ vô hình của kẻ thù mà Ngài đã dấn thân vào con đường sai lầm suốt 6 năm ròng rã cho đến khi sức cùng lực tận. Lúc bấy giờ, thế gian không thiếu những vị đại tiên có thần thông có thể thấu suốt bốn mươi đại kiếp quá khứ và vị lai (Luật tạng chú giải 1, 130; Thanh Tịnh Đạo 2, 41). Cũng có những vị thiên thần hộ địa muốn mang lại sự hưng thịnh cho thế gian. Vào những lúc như vậy, việc bảo vệ giáo pháp bản ngã chính là trách nhiệm lớn lao của họ.

Vượt qua muôn vàn trở ngại và khó khăn đó, Bồ-tát cuối cùng cũng đã tiến về cội Bồ-đề và tòa Kim Cang. Ngài sắp sửa thành Phật.

Vào khoảnh khắc đó, các thế lực bản ngã đã huy động toàn bộ binh lực và khí giới mà họ có. Ma vương không hề chậm trễ, hắn đích thân ra tiền tuyến. Với đạo binh và khí giới vô biên, hắn hòng chiếm đoạt tòa Kim Cang. Không phải vì hắn muốn ngồi lên đó, mà vì hắn sợ Ngài thành Phật. (Một số học giả Pali ở châu Âu, do không thấu hiểu bản chất này, đã lầm tưởng rằng: “Ma vương không phải là một thực thể hữu hình, mà chỉ là một cách ẩn dụ cho những diễn biến trong tâm thức”).

Sau khi Ngài thành Phật, những chướng ngại vẫn tiếp diễn không ngừng: từ những xung đột trong Tăng đoàn, sự xuất hiện của các vị Phật giả hiệu, cho đến những kẻ trà trộn vào giáo pháp để đánh cắp đạo lý rồi rêu rao rằng “chúng tôi cũng thuyết giảng và thực hành như thế”. Rồi những vụ vu khống bằng phụ nữ, sự đối đầu quan điểm của các đại phạm thiên chấp ngã như Baka, và cuối cùng là những âm mưu ám hại cho đến tận khi Ngài nhập Niết-bàn. Nếu đã như vậy, thì hành giả nào có thể thoát khỏi vòng vây của hắn? Không nên lầm tưởng rằng chỉ cần giữ chánh niệm trong hành thiền là đã đủ an toàn. (*“Bậc có chánh niệm luôn được bảo vệ tốt, nhưng không thể dễ dàng thoát khỏi kẻ thù”* - Kinh Maṇibhadra, Tương Ưng Bộ 1, trang 210).

## TRANG 162

### Những kẻ muốn thao túng cả thế giới

Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, tại vùng Trung Ấn (Majjhima Desa), thuyết bản ngã lại trỗi dậy mạnh mẽ. Người ta tạo ra những giáo lý mới với danh nghĩa "Phật giáo hiện đại và tiến bộ". Những vị tăng sĩ vốn là đại diện của Ma vương đã thành lập nên tông phái Mahayana (Đại thừa). Họ giương cao khẩu hiệu: “Phật không phải là trọng tâm, mà Bồ-tát mới là trọng tâm”. Cuối cùng, kết hợp với đủ loại bùa chú, chú thuật theo sở thích của dân gian, giáo pháp nguyên thủy đã hoàn toàn biến mất khỏi đất nước Ấn Độ. (Bài viết về sự biến mất của Phật giáo tại Ấn Độ của Rahula Sankrityayan sẽ được trình bày đầy đủ ở phần kết của tập một).

Nhìn lại lịch sử giáo pháp tại Myanmar, chúng ta cũng thấy sự tàn phá qua từng thời đại. Để đạt được các mục tiêu luyện vàng, luyện bạc và các loại thần thông, ngay cả các vị vua sau này cũng đã cổ xúy cho những con đường sai lệch đó. Các phe phái chia rẽ xuất hiện. Chỉ riêng cuộc tranh luận về cách đắp y cũng đã kéo dài suốt tám mươi năm. Nếu không có những vị vua như Anawrahta hay Bodawpaya xuất hiện kịp thời thì thật khó khăn biết bao. Do đó, các thế lực thế gian cũng tìm cách đảo ngược cả lịch sử. Có như vậy, họ mới có được những thí chủ hộ pháp theo đúng ý đồ của các giáo phái bản ngã. Vị tiểu hoàng tử Setchyar trong thời vua Bagyidaw chính là mầm mống được các thế lực thần thông tạo ra để diễn một vở kịch lịch sử. (Nếu xem xét các ghi chép về lời tiên đoán trong triều đình, chúng ta sẽ thấy rõ điều này). Bởi vậy, cho đến tận bây giờ, họ vẫn còn thù hằn vua Bodawpaya; họ không ngừng rêu rao rằng: “Maung Waing (tên thật của vua Bodawpaya) là kẻ không giữ lời hứa”. Những người dân thiếu hiểu biết thì cho đến nay vẫn còn than khóc thương tiếc cho hoàng tử Setchyar. Lịch sử và giáo pháp đã bị vấy bẩn bởi những loại thần thông thấp kém khác.

Không chỉ ở Myanmar, trong lịch sử châu Âu, từ cuộc Cách mạng Pháp trở đi, trong các sự kiện thay triều đổi đại với phương châm “phò trợ kẻ mình thích, lật đổ kẻ mình không ưa”, các thế lực thần thông hữu hình và vô hình đã dàn dựng và phô diễn quyền năng. Đó là những chuyển động thầm lặng mà các sử gia không hề hay biết. (Tác giả Paul Begay đã viết trong cuốn “Sự vô hình...