## TRANG 169

### Những điều kỳ diệu và cảnh tượng đáng chiêm bái lúc ngài viên tịch

Ngay từ khoảng hạ lạp thứ sáu khi vua Alaungpaya (A-lăng-mâm-ta-ra) mới lên ngôi, Sayadaw Taung Lay Lone đã biên soạn nhiều tác phẩm Shwe Pwe (Những điều đáng chiêm bái) khác nhau. (Danh mục ghi chép có hơn ba mươi tác phẩm Shwe Pwe; hiện nay chùa Sudhammavadi đã ấn hành bốn bộ, mỗi bộ gồm tám tác phẩm).

Dựa trên niên hiệu hoàn thành kinh sách, có thể ước tính rằng tác phẩm *Dhamma Nibbinda Shwe Pwe* (viết vào năm 1116 Miến lịch, khi ngài 6 hạ lạp) là tác phẩm đầu tiên, và tác phẩm *Sar Yin Pann Shwe Pwe* được viết vào năm 1185 Miến lịch, khi ngài 97 tuổi. Trong tác phẩm **Namotassa Gambhira Shwe Pwe**, có đoạn viết: "Ta cũng đã từng viết Sar Yin Pann Shwe Pwe rồi", nên đây có thể xem là tác phẩm cuối cùng của ngài. Căn cứ vào nội dung và ý nghĩa (đầy đủ và sâu sắc hơn), điều này hoàn toàn có cơ sở.

Việc ngài vẫn có thể viết lách cho đến khi ngoài chín mươi tuổi thật là điều vô cùng kinh ngạc.

Trong các tác phẩm như **Amata Sopana**, **Amata Dvara**, **Dhamma Piya**, **Sanatha**, v.v., ngài thường lồng ghép Phật lịch và Miến lịch (đôi khi dùng cả tiếng Pali lẫn tiếng Miến), qua đó chúng ta biết được tuổi đời và tuổi đạo của ngài. Vào năm 73 và 74 tuổi là thời gian ngài viết nhiều nhất. Tuy nhiên, về niên hiệu cũng có điều đáng nghi vấn là: "Đây là niên hiệu viết nguyên thủy, hay là do những người chép kinh đời sau thêm vào?". (Ở đây, niên hiệu năm sinh và năm viên tịch được trình bày theo các tác phẩm Amata Sopana, Sar Yin Pann và Namotassa Gambhira Shwe Pwe).

Các con số về niên hiệu vốn có nhiều sai lệch qua các bản chép tay. Tác phẩm **Namotassa Gambhira Shwe Pwe** trong các bản in ghi là năm 1151, nhưng trong bản chép tay trên lá buông (parabaik) lại ghi là năm 1182.

Trong bản chép tay về tiểu sử 105 vị đại trưởng lão nổi tiếng do Min Hla Thiri Siha Thu ghi chép năm 1213 có đoạn:

"24. Sayadaw Taung Lay Lone sinh năm 1090, tuổi Mậu Thân, thọ 78 tuổi, viên tịch năm 1168. Ngài tên là Shin Medhavi, sinh tại làng U-shít. Con gái vua Hinthada hộ độ. Ngài được ban danh hiệu **Munindabhilankara Saddhamma Mahadhammarajaguru**, trú tại chùa Ba Tầng, làng Myauk Min, thành Amarapura." Đây là ghi chép tương đối đáng tin cậy. Quý vị có thể tùy nghi lựa chọn thông tin theo ý mình.

Các tác phẩm Shwe Pwe được ngài chọn lọc những tinh hoa cốt yếu từ Tam Tạng kinh điển, viết bằng văn phong tiếng Miến bình dân, bộc trực, mạnh mẽ khiến ai đọc cũng hiểu ngay và không thấy nhàm chán.

Dù đã trôi qua hơn hai trăm năm, các tác phẩm này vẫn đứng vững như một pho giáo điển xuất sắc nhất, có tác động mạnh mẽ nhất trong việc cảnh tỉnh đại đa số quần chúng và thúc đẩy các hành giả tu tập. Về sự viên tịch của ngài, có những sự kiện kỳ diệu vô cùng đặc biệt.

## TRANG 170

Nếu chưa từng đọc qua những ý nghĩa sâu sắc về Tứ Niệm Xứ và hơi thở (Anapana) trong các tác phẩm Shwe Pwe, mà chỉ nghe kể về sự viên tịch của ngài, có lẽ người ta sẽ khó lòng tin được. Bởi lẽ, chính nội dung các bộ Shwe Pwe đã minh chứng cho trình độ chứng đắc thâm sâu của ngài.

### Những điều cần ghi nhớ từ Shwe Pwe

Trước khi trình bày về sự kỳ diệu lúc ngài viên tịch, tôi xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu để thấy được văn phong và ý nghĩa thâm thúy trong các tác phẩm của ngài.

"Về hơi thở ra hơi thở vào, ngay cả loài **Sonasingala** (chó nhà, chó rừng) cũng biết rõ. Do đó, nếu chỉ biết hơi thở ra là hơi thở ra, hơi thở vào là hơi thở vào ở mức độ thuần túy thì chưa gọi là tu tập Tứ Niệm Xứ." (Tập 1, tr. 24).

"Nếu thực hành đúng như lời dạy, sẽ chứng đắc Đạo Quả ngay trong hiện tại (ditthadhamma) - điều này đã được thuyết giảng lặp đi lặp lại trong giáo pháp. Dù đã rõ ràng như vậy, nhưng nếu vẫn còn hoài nghi (vicikiccha) rằng bản thân có đắc được Đạo Quả trong đời này hay không, thì hãy hiểu rằng đó là vì 'không thầy chỉ dạy, không nắm được pháp hành'. Còn nếu đã có thầy chỉ dạy, đã nắm được pháp hành mà vẫn hoài nghi về việc có đắc Đạo Quả hay không, thì đó chính là hạng người không tin vào trí Toàn Giác (Sabbannuta-nana) không thể nghĩ bàn của Đức Phật. Ngoài lý do này ra, không còn lý do nào khác." (Tập 1, tr. 51).

"Nếu chỉ nói cửa miệng các từ **Anicca (Vô thường), Dukkha (Khổ), Anatta (Vô ngã)** thì không thể tạo nên đại phước đức (maha-punna) được." (Ngài nhấn mạnh rằng nếu nhìn thấy rõ ràng bản chất Vô thường, v.v., thì phước đức đó còn cao quý hơn việc mỗi ngày xây dựng một trăm ngôi chùa vàng, một trăm ngôi chùa bạc hay xây dựng 84.000 bảo tháp vàng). (Tập 1, tr. 64).

"Vị tỳ-kheo lười biếng không nỗ lực tu tập Thiền định (Samatha) và Thiền quán (Vipassana), chỉ sống sao cho không phạm giới, không tạo ác nghiệp, thì cũng giống như người bệnh chỉ lo kiêng khem ăn uống (ăn thực phẩm chức năng) mà không chịu uống thuốc chữa bệnh; đại bệnh hủi phiền não (kilesa) sẽ không bao giờ khỏi được." (Tập 1, tr. 60).

"Người nào nỗ lực thực hành bố thí, trì giới nhưng chỉ mong cầu lợi ích và hạnh phúc thế gian, người đó được gọi là kẻ tự đem bán mình hoặc cầm cố bản thân vào vòng khổ đau luân hồi." (Tập 1, tr. 210).

"Nếu ngay cả chân lý thế gian là Tuệ như thực (Yathabhuta-nana) mà cũng không chấp nhận, thì người đó chính là kẻ thù thực sự của Đức Phật không thể nghĩ bàn. Vì chưa đạt đến mức độ Chánh kiến (Samma-ditthi) trong giáo pháp, nên không thể gọi là người hữu Chánh kiến." (Tập 1, tr. 296).

## TRANG 171

"Sự phát khởi của Tuệ như thực (Yathabhuta-nana) cũng giống như lúc rạng đông. Chẳng bao lâu nữa, cũng như vầng thái dương rực rỡ hiện lên, trí Đạo, trí Quả và Niết-bàn sẽ xuất hiện. Thời điểm đó đã cận kề bên con rồi, hãy hết sức tỉnh giác." (Tập 1, tr. 354).

"Nếu chịu khổ một ngày mà chắc chắn được hạnh phúc nhiều ngày, thì không nên sợ hãi cái khổ của một ngày đó. Nếu chịu khổ một tháng, một năm, hay thậm chí cả một đời mà chắc chắn được hạnh phúc trong nhiều tháng, nhiều năm, nhiều đời sau, thì cũng không nên sợ hãi cái khổ của một tháng, một năm hay một đời đó. Đừng nên chiều theo ái dục (tanha), tham lam (lobha) hay dục lạc (raga) của hiện tại. Hãy nhìn xa trông rộng, đem cả tính mạng mình dấn thân vào con đường của bậc thiện tri thức một cách hân hoan." (Tập 1, tr. 363).

"Nếu cứ khăng khăng bám chặt vào ý nghĩ 'mẹ của ta, cha của ta, vợ của ta, chồng của ta', thì giống như con chuột chui tọt vào cái bầu khô; cũng vậy, hạng **Mahabalumattaka** (kẻ đại ngu si) chui vào giáo pháp chỉ để quấy phá mà thôi. Khi hạng người điên rồ rông rỡ, thiếu Tuệ nhãn (Yathabhuta-nana) này trở nên đông đảo, hãy tỉnh giác rằng giáo pháp sắp bị hủy diệt và hiểm họa đã cận kề. Hãy biết sợ hãi điều đó." (Do hiểu sai lệch nên họ phỉ báng Phật, tự hủy hoại bản thân và làm nảy sinh vô số điều bất thiện). (Tập 1, tr. 291; Tập 2, tr. 88).

"Nếu không đạt được **Yathabhuta-nana Sampajanna** (Tỉnh giác bằng Tuệ như thực), thì khi đi không biết mình đang đi, khi đứng - ngồi - nằm cũng không biết là mình đang đứng - ngồi - nằm. Như vậy thì cũng chẳng khác gì trâu, bò, chó, lợn, gà, chim và các loài bàng sanh vậy." (Tập 2, tr. 388).

### Răn dạy người em là U Dhammapiya

Ngài Sayadaw Caturagiri Taung Lay Lone có một người em trai tên là U Dhammapiya. Không rõ là em họ hay em cùng mẹ khác cha. U Dhammapiya dường như cũng tu hành tại một ngôi chùa rừng. Trong khi đọc và thực hành theo các tác phẩm của người anh, có những điểm chưa rõ nên ông đã thỉnh vấn, và vào năm 1162 Miến lịch, ngài đã viết tác phẩm "Dhammapiya Shwe Pwe".

Vào thời điểm đó, người em đã 62 tuổi, còn người anh đã 73 tuổi.

Ngài mở đầu một cách đầy hân hoan và răn dạy một cách rành mạch rằng: "Việc sư em Dhammapiya thỉnh cầu 'Pháp bảo tài sản' từ sư anh, cũng ví như muốn khóc mà có người vỗ vai, như đang ngứa mà có người gãi đúng chỗ vậy..." 

---
