## TRANG 175

### Nguyện vọng và Lời huấn thị của Ngài Sayadaw

Mặc dù Ngài Sayadaw vĩ đại đã biên soạn rất nhiều bộ kinh sách quán chiếu khác nhau, nhưng nguyện vọng và mục đích của Ngài chỉ duy nhất có một điều.

“Mong sao quyển sách nhỏ này, giống như lớp váng dầu lan tỏa trên mặt nước, sẽ được phổ biến rộng rãi khắp mọi nơi. Ngay cả khi ta qua đời, bộ kinh này sẽ thay mặt ta phục vụ cho sự nghiệp của bậc **Sabbaññu** (Chính Biến Tri), làm tròn ý nguyện của Đức Phật và mang lại lợi ích cao thượng cho tất cả chư thiên và nhân loại cho đến khi viên thành.” (Trích lời kết của *Namotassa Gambhīra* và *Amatadvāra Shwebwe*.)

Ở hầu hết các tập quán chiếu, Ngài thường tự tay dùng bút chì sắt khắc ghi những lời trên vào lá buối ở phần kết thúc. Theo đúng nguyện vọng đó, từ năm 1164 (lịch Myanmar), tức là khá lâu trước khi Ngài viên tịch, nhà in “Rammapura” ở thành phố Mawlamyine đã cho in ấn trọn bộ 12 tập quán chiếu đã hoàn thành, góp phần hiện thực hóa tâm nguyện của Ngài. Khi đó Ngài vẫn còn tại thế nên có thể đã được tận mắt chứng kiến điều này.

Ngoài ra, trong nội dung của tập “Amatadvāra Shwebwe” (Tập 2, trang 66), chúng ta còn đọc được một lời giáo huấn đặc biệt mà Ngài đã để lại cho hậu thế. Lời huấn thị đó như sau:

“Vào năm **Ekasaṭṭhi satasahassa** = (1161), Ngài Sayadaw xứ Catugiri đã để lại lời giáo huấn và nhắn nhủ cho những người thuộc thế hệ mai sau rằng: ‘Hãy luôn giữ chánh niệm (Sati) và nỗ lực tinh tấn (Viriya).’

Chúng ta sẽ không thể sống mãi bên nhau mà không già, không chết, không tan rã. Một người bỏ lại người kia mà ra đi, điều này đã từng xảy ra rất nhiều trong quá khứ, sẽ còn tiếp tục diễn ra trong tương lai, và ngay cả hiện tại cũng đang diễn ra như vậy. Hãy khởi tâm kinh cảm (Saṃvega) rằng đây là bản chất tự nhiên, là quy luật của vòng luân hồi (Saṃsāra-vaṭṭa).”

## TRANG 176

### Ngài Muninda-ghosa và Ngài Gambhīsāra – Những bậc đắc Thiền

Vào năm 1114, dưới triều đại của Vua Bodawpaya – người sáng lập kinh đô Amarapura, tại vùng Yesagyo lan truyền tin tức về sự xuất hiện của hai bậc tu sĩ đặc biệt. Đó là bậc thầy – Tỳ-khưu Muninda-ghosa và người đệ tử – Tỳ-khưu Gambhīsāra. Dù là thầy trò nhưng mỗi vị trú ngụ tại một ngôi chùa riêng biệt.

Vào một ngày đại lễ Rằm tháng Tư (tháng Wasit) bắt đầu mùa An cư, khi Ngài Gambhīsāra đến chùa của thầy mình để đảnh lễ, Ngài Muninda-ghosa sau khi ban lời giáo huấn đã kết luận bằng lời khuyến tấn:

“Này Hiền giả Gambhīsāra, đừng lầm tưởng rằng hiện nay tinh hoa của Giáo pháp đã đoạn tuyệt. Tinh hoa ấy vẫn còn hiện hữu. Chỉ vì người ta thiếu đi sự nỗ lực và tinh tấn nên mới cảm thấy như Giáo pháp đã mất đi cốt lõi. Hiền giả cũng chớ nên hờ hững. Đã đến lúc thích hợp để nỗ lực vun bồi giới hạnh và tiến tu đề mục hành thiền (Kammaṭṭhāna) rồi.”

Câu nói “Đừng lầm tưởng rằng tinh hoa đã đoạn tuyệt” là cách nói dựa trên Pháp bảo (dhamma-adhiṭṭhāna), vì là bậc xuất gia nên Ngài không trực tiếp nói về chứng đắc cá nhân do tôn trọng giới luật (Vinaya), mà chỉ ám chỉ một cách khéo léo. Ngài Gambhīsāra hiểu rõ thâm ý đó. Vị đệ tử cung kính tiếp nhận lời dạy rồi trở về chùa, bắt đầu nghiên cứu lại các kinh điển Pāḷi và các luận thư về Minh sát (Vipassanā).

Khi đọc trong năm bộ Chú giải lớn (Aṭṭhakathā), Ngài thấy cách phân chia năm thời kỳ của Giáo pháp dường như cho rằng thời nay không còn có thể đắc được Thiền định (Jhāna) và Thắng trí (Abhiññā), điều này khiến Ngài không khỏi trăn trở. Một số bậc đa văn túc học cũng nản lòng, cho rằng thời này đừng nói đến quả vị A-la-hán, ngay cả Thiền định cũng khó lòng đạt được. Chỉ đến khi đọc được lời Đức Phật dạy cho du sĩ Subhadda trong kinh Đại Bát Niết-bàn (*Mahāparinibbāna Sutta*): “Dù trải qua một ngàn năm hay mười ngàn năm, chừng nào Chánh pháp còn được thực hành đúng đắn, thì mục đích cứu cánh vẫn có thể đạt được vào bất cứ lúc nào”, Ngài mới hạ quyết tâm tin tưởng tuyệt đối và lập kế hoạch hành trì.

Trong 40 đề mục hành thiền, Ngài chọn đề mục phù hợp với tính khí (carita) của mình: đó là Biến xứ màu xanh (Nīla-kasiṇa). Trong khi tu tập đề mục này, chẳng bao lâu Ngài đạt được định lực, cảm nhận được sự an tịnh và hỷ lạc của Pháp (dhamma-pīti, dhamma-sukha). Một ấn tướng (nimitta) xanh biếc như hoa đậu biếc hiện ra rõ rệt. Lúc bấy giờ, Ngài vô cùng hoan hỷ và càng thêm kính trọng lời dạy của thầy mình rằng tinh hoa Giáo pháp vẫn chưa đoạn tuyệt. Với tâm niệm “đây mới chỉ là bắt đầu”, Ngài tiếp tục quán chiếu thâm sâu hơn. Trong luồng ánh sáng xanh ấy, hình ảnh một con voi xuất hiện. Rồi trên hình ảnh con voi, các ấn tướng sư tử, long vương, kim xì điểu lần lượt xuất hiện chồng lên nhau. Thêm vào đó, vô số những ấn tướng kỳ lạ khác hiện khởi không sao đếm xuể. Ngài vẫn chưa tường trình việc này với thầy mình, trong lòng vẫn còn chút phân vân, chưa chắc chắn.

## TRANG 177

Một ngày nọ, trong khi đang đi bát vào làng, hơi thở ra vào bỗng nhiên ngừng bặt, trạng thái này kéo dài suốt hai đến ba giờ đồng hồ. Lúc bấy giờ, khi mùa An cư đã kết thúc, nhân dịp đến đảnh lễ thầy, Ngài đã tường trình đầu đuôi sự việc. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, vị thầy vô cùng hoan hỷ, trích dẫn các đoạn kinh Pāḷi để xác chứng và nói rằng:

“Này Hiền giả, trạng thái này được gọi là Tứ thiền (Catuttha Jhāna).” Rồi Ngài dặn dò đệ tử tiếp tục nỗ lực hành trì.

### Tin tức lan đến kinh đô

Tin tức về việc hai thầy trò tại thành phố Yesagyo đắc Thiền đã lan tới hoàng cung của Vua Bodawpaya tại kinh đô Amarapura và truyền đi khắp mọi thị tứ, làng mạc. Khi đó, nhà vua đã thỉnh bốn vị Sayadaw bác học lừng danh vào cung và thưa rằng:

“Trẫm rất lấy làm hoan hỷ khi nghe tin tức về hai vị tăng sĩ ở thành phố Yesagyo. Trẫm tin rằng đây là dấu hiệu của sự hưng thịnh của Giáo pháp. Kính mong các Ngài ai lân lặn lội đến Yesagyo để thẩm tra, đối chiếu sự việc xem có phù hợp với kinh điển hay không. Nếu thực sự đúng như lời đồn, Trẫm mong muốn được thỉnh các Ngài về kinh đô để cúng dường và quy y.”

Bốn vị Sayadaw đó gồm có: Sayadaw Bhākarā, Sayadaw Methī, Sayadaw Mañjīto và Sayadaw Mahādān-wun. Các Ngài hoan hỷ nhận lời và ấn định ngày lên đường. Nhà vua cũng ban sắc lệnh cho các quan cai quản và các bậc thân hào nhân sĩ tại vùng Yesagyo chuẩn bị đầy đủ các vật dụng hộ độ (tứ vật dụng) để đón tiếp phái đoàn.

Ngài Muninda-ghosa thông qua các quan chức địa phương đã nghe biết được tin này, Ngài liền gọi Ngài Gambhīsāra đến chùa và nói:

“Này Hiền giả, từ vài lời hé mở với một vài người thân cận mà tin tức cứ thế lan rộng, đến mức kinh đô cũng đã hay biết. Trẫm nghe nói nhà vua đã thỉnh bốn vị Sayadaw đại trưởng lão đến đây để thẩm vấn chúng ta. Các Ngài sắp đến rồi...”