## TRANG 178

“Khi được thẩm vấn, con hãy trình bày tất cả những gì sinh khởi trong tâm mình một cách đúng như thật, không thêm bớt. Ta cũng sẽ chịu thẩm vấn như vậy thôi”. Ngài đã nhắc nhở đệ tử như thế.

Đối với các hành giả, điểm này vô cùng quan trọng. Việc trình bày hoặc thảo luận về những gì mình chứng nghiệm một cách trung thực, không thêm bớt, chính là chi pháp “Trung thực, không quanh co” (**Asaṭho, amāyāvī**) trong năm **Pháp Cần** (**Padhāniyaṅga**). Chỉ khi có được sự ngay thẳng đó, hành giả mới có thể thăng tiến. Vào ngày đã định, bốn vị Đại Trưởng lão đã ngự đến và an trú tại một ngôi chùa tạm ở thị trấn Yesagyo. Hai thầy trò Ngài **Munindaghosa** được cung thỉnh đến để thẩm vấn. Ngài **Munindaghosa** bạch rằng:

“Bạch Ngài, con có thể đắc định từ Sơ thiền đến Tứ thiền một cách thuần thục. Tuy nhiên, về phần **Về-si-bo** (**Vasībhāva** - sự thuần thục tự tại), con đã cố gắng rèn luyện nhưng vẫn chưa thực sự viên mãn”.

Khi các vị Đại Trưởng lão thẩm vấn: “Các sư có thầy hướng dẫn hành thiền không?”, Ngài **Munindaghosa** đáp:

“Bạch các Ngài, con không có thầy hướng dẫn. Con chỉ dựa vào việc nghiên cứu bộ luận **Thanh Tịnh Đạo** (**Visuddhimagga**) để thực hành”.

Vị đệ tử là Ngài **Gambhīsāra** cũng trình bày rõ ràng, không giấu giếm tất cả những gì đã sinh khởi trong tâm từ lời sách tấn của thầy cho đến các tướng định (nimitta) đã hiện khởi.

Bốn vị Đại Trưởng lão đã thẩm vấn và cân nhắc nhiều lần, sau đó phán rằng:

“Hừm, theo như những lời trình bày thì có những điểm phù hợp với kinh điển, nhưng cũng có những điểm không phù hợp”. Lúc ấy, Ngài **Munindaghosa** bạch rằng:

“Bạch các Ngài, xin các Ngài chỉ giáo rõ điểm nào phù hợp với kinh điển và điểm nào không phù hợp”. Các vị Đại Trưởng lão đáp:

“Hừm... Pháp phát sinh nơi tâm người khác không phải là pháp nơi tâm mình, thế nên chúng ta không thể khẳng định tuyệt đối đâu là đúng, đâu là sai”. Sau đó, bốn vị Đại Trưởng lão trở về kinh đô. Không lâu sau, Vua Bodawpaya băng hà, khiến cho vấn đề này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Năm Vua Bodawpaya băng hà là năm 1181 (lịch Miến Điện).

Sau đó, dưới triều vua Bagyidaw (1181-1199), bậc thượng nhân **Munindaghosa** đã chuyển đến trú ngụ tại tịnh thất Pabha (Pabhā-khyoung) ở dãy núi Sagaing. (Suối Pabha nằm gần chùa Punnyashin và hang Umìn-ko-se, vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Cũng có nơi viết là Pabbā-khyoung). Nhà vua cũng đã hộ độ bốn món vật dụng cho Ngài. Tại tịnh thất Pabha,

## TRANG 179

Ngài đã thuyết giảng và hướng dẫn pháp **Hành thiền** (**Kammaṭṭhāna Bhāvanā**) cho đông đảo đệ tử gồm cả chư tăng và cư sĩ từ khắp nơi đổ về. Danh tiếng của Ngài lừng lẫy khắp bốn phương là một bậc Thánh đắc Thiền (**Jhānalābhī**). (Thông tin này được ghi lại trong bộ **Bhāvanānaya Dīpanī**).

## TRANG 180

### Vị A-la-hán thành Inwa: Ngài Saddhamma-laṅkāra

Vào triều vua Bagyidaw, tại chùa Mohnyin ở thành Inwa, có hai vị sư bạn lữ đang cùng nhau tu học Pháp học (**Pariyatti**). Một vị là Ngài **Saddhamma-laṅkāra**, vị kia là Ngài **Visuddhācāra**. Cả hai đều vô cùng cung kính Luật tạng và rất thân thiết với nhau. Họ cũng rất tinh thông Pháp học.

Một ngày nọ, Ngài **Saddhamma-laṅkāra** bàn luận với Ngài **Visuddhācāra** rằng:

“Này hiền giả, chúng ta đã có được thân người khó đắc, lại được xuất gia làm Tăng. Chúng ta cũng đã am hiểu Pháp học (**Pariyatti**) trong khả năng của mình. Tuy nhiên, ngoài việc giữ mình không phạm lỗi, chúng ta vẫn chưa thực hiện phận sự của một vị sa-môn. Một khi phận sự chưa hoàn tất, hiểm họa luân hồi vẫn là điều đáng lo ngại. Thuở trước, có một con cá lớn tên là **Piṅgala**, kiếp trước vốn là một vị Trưởng lão cực kỳ thông thái, từng dạy Pháp học cho hàng ngàn đệ tử tại nhiều tự viện lớn. Chỉ bấy nhiêu Pháp học thôi vẫn chưa thể giúp thoát khỏi hiểm họa khổ cảnh. Kinh dạy: “**Pariyatti bahulo no dhammavihārī**” - người chỉ thông thạo kinh điển thì chưa được gọi là người an trú trong Pháp. Này hiền giả, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên thực hành thiền **Vipassanā**”.

Ngài **Visuddhācāra**, vốn có sẵn hạt giống trí tuệ **Sanh-vê-ga** (**Saṃvega** - sự chấn động tâm tư trước sanh tử) và **Ba-la-mật**, đã đáp rằng:

“Hiện nay, con tin rằng các pháp **Đạo, Quả, Niết-bàn, Thiền định và Thắng trí** vẫn có thể chứng đắc được. Con vốn đã có tâm nguyện tu tập **Vipassanā** từ lâu, nay nghe Ngài nói vậy con vô cùng hoan hỷ. Tuy nhiên, việc này không nên làm mà thiếu thầy hướng dẫn. Kinh cũng dạy: “**Yathābhūtaṃ ñāṇāya satthā pariyesitabbo**” - muốn biết đúng như thật về Danh và Sắc thì phải tìm thầy chỉ dạy. Bạch Ngài, Ngài đã tìm được vị thầy nào chưa?”.

“Ta rất đồng ý với ý kiến của hiền giả. Nếu vậy, chúng ta hãy đi tìm một vị thầy vừa tinh thông kinh điển, vừa có khả năng hướng dẫn thực hành đạt đạo. Như Ngài **Upatissa** và **Koliṭa** thuở xưa, hiền giả hãy đi một ngả, tôi đi một ngả. Hễ ai tìm được minh sư thì phải báo cho người kia biết”. Ngài **Saddhamma-laṅkāra** đề nghị như vậy và hai vị đã lập lời thệ nguyện với nhau. Mỗi vị chỉ với một bình bát và ba tấm y, họ lên đường tìm thầy, hành trình ấy kéo dài hơn hai năm.

Ngài **Saddhamma-laṅkāra** đi khắp nơi vừa dò hỏi tin tức vừa tu tập, cuối cùng đã đến núi Sagaing. Lúc bấy giờ, vị Thánh đắc Thiền từ Yesagyo vừa mới bắt đầu cư ngụ tại tịnh thất **Pabha**. Ngài **Saddhamma-laṅkāra** đã [gặp] Ngài **Visuddhācāra**...
