## TRANG 184

Khi ấy, giữa những lứa âm thanh yếu ớt và thê thiết, ngài phán rằng:

“Này các đệ tử, pháp hành **Nisajjadhutaṅga** (Hạnh Đầu đà Ngồi) không phải chỉ được thọ trì vì lời phát nguyện. Pháp **Kammaṭṭhāna** (Thiền định) chính là vào lúc cận tử, khí lực suy yếu thì càng phải nỗ lực tinh tấn. Ngay cả người không có bệnh tật còn từng dùng đá đập vào đùi để tạo ra thọ khổ mà tu tập. Để đối kháng với tật bệnh, này các đệ tử, chỉ có duy nhất pháp hành **Kammaṭṭhāna** mà thôi. Sự chết vốn không phải là điều xa lạ; ngay cả chư Phật và các bậc A-la-hán cũng không ai có thể tránh khỏi.”

Các đệ tử nghe vậy chỉ biết giữ im lặng. Sau một hồi nghỉ ngơi cho vơi bớt mệt nhọc, ngài nói lời cuối cùng:

“Này các đệ tử, nếu các con yêu mến ta, thì trong lúc ta đang sắp lâm chung này, hãy chỉ nên khuyến khích ta phát khởi những pháp chưa từng được tu tập. Đừng vì lòng thương xót mà ngăn cản hay làm suy giảm những pháp mà ta đang nỗ lực hành trì.”

Các đệ tử không còn ai dám thưa thỉnh thêm lời nào nữa, chỉ biết chuyên tâm chăm sóc hỗ trợ ngài trong lúc lâm bệnh. Chẳng bao lâu sau, **Cuti-kammaja-rūpa** (Tâm tử và các sắc do nghiệp tạo) chấm dứt, ngài chính thức xả bỏ thân xác (viên tịch).

Thời điểm đó là lúc vua Pagan lên ngôi tại kinh đô Amarapura. Các đệ tử đã lo liệu pháp thể của ngài và gửi tin báo về cung đình. Bởi lẽ, vị Thiền sư vốn là bậc thầy quy y mà Hoàng tử em trai vua (**Vua Mindon**) hằng tôn kính. Sau đó, đích thân Hoàng tử Mindon (người mà sau này trở thành vị vua vĩ đại chủ trì kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ V) đã đứng ra tổ chức lễ hỏa táng.

Khi pháp thể đã cháy thành tro và lửa đã tắt, các đệ tử tranh nhau dội nước để tìm kiếm và thu gom xá-lợi xương để thờ phụng. Trong khi các phần xương khác đều bị thiêu trụi và vỡ vụn, thì hai khúc xương cánh tay (từ khuỷu tay đến cổ tay) vẫn còn nguyên vẹn, tỏa ra sắc vàng óng ánh đẹp đẽ như thể vừa được dát một lớp vàng nguyên chất. Người dân từ khắp nơi gần xa nghe danh đã kéo đến chiêm bái rất đông. Mọi người đều truyền tụng rằng ngài chính là một bậc Thánh A-la-hán.

(Sự việc này được ghi chép đúng theo thực tế trong tập sách *Bhāvanānaya Dīpanī*. Trong bản gốc vốn không ghi rõ năm tháng cụ thể).

## TRANG 185

### Ngài Visuddhācāra ở tu viện Mothi

Về Ngài **Visuddhācāra**, không thể khẳng định chắc chắn ngài là bậc Thánh (Ariya). Tuy nhiên, vì ngài có mối liên hệ với các bậc tiền bối thuở xưa, cũng như đức tin (**Saddhā**), sự tinh tấn (**Vīriya**) và những dấu hiệu chứng đắc pháp của ngài là tấm gương cho hậu thế noi theo, nên nơi đây tôi xin tóm lược tiểu sử của ngài theo bản gốc.

Vào đêm trước khi cùng với người bạn là Ngài **Saddhammālaṅkāra** rời tu viện Mothi ở Inwa để đến Sagaing, Ngài **Visuddhācāra** trước khi ngủ đã thực hiện rải tâm từ, thỉnh cầu chư Thiên và mong cầu một điềm báo trong giấc mộng. Ngài nằm mơ thấy một chiếc thuyền vàng lớn chở đầy người đang chèo tới; khi ngài đứng ở bến cảng vẫy tay ra hiệu, chiếc thuyền đã dễ dàng đưa ngài sang bờ bên kia. Suy luận từ ý nghĩa giấc mơ, ngài vô cùng hoan hỷ, mang theo một bình bát, ba tấm y và cuốn sách lá buông **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo), cùng Ngài **Saddhammālaṅkāra** lên đường đến động Pabhā.

Khi đến động Pabhā, vị Thiền sư **Jhānalābhī** (Bậc đắc Thiền) sau lời chào hỏi đã hỏi rằng:

“Này hiền giả, ông muốn ở đây để hành đạo hay để học tập kinh điển? Nếu muốn hành đạo, hãy ở lại tu viện trong rừng này. Nếu muốn học tập kinh điển, hãy ở một tu viện nào đó gần làng. Trên đường đi khất thực về, ta sẽ truyền dạy pháp cho ông.”

Nhìn vào xấp sách lá buông lớn mà ngài đang mang theo, Ngài **Visuddhācāra** cùng lúc thưa rằng:

“Con vừa muốn hành đạo, lại vừa muốn học tập kinh điển ạ.”

Khi đó, vị Thiền sư liền đưa ra ví dụ:

“Này hiền giả, những người lái đò trên dòng sông Ayeyarwady này, đối với người có mang theo hành lý, họ lấy một kyat (một đồng bạc). Đối với người không mang theo hành lý, họ chỉ lấy một nửa. Nếu một người mang hành lý nói rằng: ‘Thưa chủ đò, tôi sẽ không đặt hành lý xuống thuyền của ông mà sẽ tự mình vác trên vai trong suốt chuyến đi, xin ông hãy chỉ thu của tôi một nửa tiền thôi’, liệu người lái đò có đồng ý đưa đi hay không?”

Nhận ra mình đã thưa sai và việc mang theo xấp sách **Visuddhimagga** là một gánh nặng tâm trí, ngài bèn sửa lời:

“Con xin chỉ chuyên tâm hành pháp **Kammaṭṭhāna** (Thiền định) mà thôi.”

Vị Thiền sư sau đó đã chỉ dẫn những giáo pháp căn bản theo phương pháp cổ xưa. Ngài phán: “Nếu muốn hành **Samatha** (Thiền định), phải thu thúc tâm. Nếu muốn hành **Vipassanā** (Thiền tuệ), phải quán chiếu **Ba tướng** (Lakkhana-ye) lên tất cả những gì nhìn thấy để buông xả tâm.” Ngài Visuddhācāra đã nỗ lực thực hành đề mục **Ānāpāna** (Niệm hơi thở). Dù trải qua sáu ngày, ngài vẫn không thể ghi nhận được, cảm thấy trong bụng căng tức và mệt mỏi vô cùng, nên đã đến thưa với bậc Thầy.

“Này hiền giả, ông có **Dosa-carita** (Sân tính) rất nặng. Không phù hợp với **Ānāpāna**. Ông phải tu tập **Kasiṇa** (Đề mục biến xứ).”

## TRANG 186

Vừa dứt lời, Thầy đã ban cho ngài một đĩa **O dāta Kasiṇa** (Biến xứ màu trắng) đã được chuẩn bị sẵn. Thầy cũng hướng dẫn cách đặt đĩa Kasiṇa ở khoảng cách vừa phải trước mặt, không được cúi đầu hay ngẩng đầu quá cao để quan sát.

### Biến xứ Màu trắng và Tưởng về sự bất tịnh

Khi ngài chuyên tâm quan sát và tâm niệm “Trắng, trắng”, sau chín ngày, ngài thấy từ trong đĩa Kasiṇa phát ra những luồng khói nghi ngút như một dấu hiệu (Nimitta). Khi ấy ngài vô cùng hoan hỷ, tin rằng mình đã cận kề Đạo Quả. Ngài không còn trò chuyện với bạn đồng tu, không cùng đi khất thực hay ăn chung với đại chúng mà chỉ một mình nỗ lực tinh tấn. Chẳng bao lâu, trong đĩa Kasiṇa ngài lại thấy ánh sáng lấp lánh như đom đóm, rồi rực rỡ như ánh trăng. Ngay cả khi rời mắt khỏi đĩa Kasiṇa, ở bất cứ nơi đâu ngài nhìn vào cũng thấy ánh sáng hiện lên rõ ràng như ánh trăng. Ngài càng thêm phần phấn chấn, lòng đầy hỷ lạc vì nghĩ rằng Đạo Quả đã tiến gần hơn bao giờ hết.

Sau nhiều ngày duy trì được tướng của **O dāta Kasiṇa**, ngài suy nghĩ rằng:

“Ta đã đạt được đề mục Kasiṇa một cách thanh tịnh rồi. Nay ta nên chuyển sang thực hành **Paṭikūlasaññā** (Tưởng về sự ghê tởm/bất tịnh) xem sao.”

Nghĩ vậy, sau khi đi khất thực về, ngài múc một bát nước đặt trước tượng Phật trong hang đá, rồi quán chiếu bát nước đó như là một bát phân lớn. Ngay lập tức, hình ảnh đó hiện ra đúng như tâm ý ngài tưởng tượng. Tuy nhiên, khi đến giờ thọ thực, ngài nhìn vào bát cơm cũng chỉ thấy toàn là phân, khiến ngài chỉ ăn được một chút ít. Ngày hôm sau, ngài quán chiếu về đờm dãi, kết quả cũng tương tự khiến ngài không thể ăn được. Đối với người đã đạt được định (**Samādhi**) thông qua một dấu hiệu, việc chuyển đổi như vậy vốn luôn dễ dàng.

### Gặp Đức Phật và nỗi niềm rơi lệ

Cho rằng “**Samatha** (Thiền định) như vậy là đã đủ, nay phải quán chiếu **Saṅkhāra** (Hành) lên tất cả những gì nhìn thấy để chuyển sang **Vipassanā** (Thiền tuệ) mới là đúng đắn”, vào một buổi chiều, ngài bắt đầu chuyển sang tu tập Vipassanā. Khi ấy, hình bóng một người phụ nữ mà ngài từng có sự vướng bận tâm trí từ thuở nhỏ lại hiện lên đầy tham luyến. Ngài phải tu tập đề mục **32 thể phần** (32 Koṭṭhāsa Kammaṭṭhāna) như tóc, lông, móng, răng... để phá tan sự dính mắc đó. Ngài quán chiếu về sự uế nhiễm tuôn ra từ chín cửa đạo, về sự thụ thai (**Paṭisandhi**), sự già, bệnh và chết. Ngài nhìn thấy hình ảnh một xác chết hiện ra. Khi ấy, ngài nhận ra **Ba tướng** (**Anicca** - Vô thường, **Dukkha** - Khổ, **Anatta** - Vô ngã) đã hiển hiện rõ rệt, và nhìn thấy rõ sự nguy hại của hạ liệt **Taṇhā** (Tham ái) trong tâm khảm của chính mình. 
