## TRANG 187

“Này **Taṇhā** (Ái dục) hèn hạ, khao khát tồi tàn! Vì ngươi mà ta phải luân hồi trong vòng sinh tử, lạc mất bao nhiêu vị Phật,” v.v... Ngài quán chiếu sâu sắc về những lỗi lầm của **Taṇhā** (Ái dục) và không ngừng quở trách nó.

Khi ngài đối chất như vậy, Ái dục lại hiện ra dưới hình dạng một con người. Thực thể Ái dục đó thốt lên rằng: “Không phải chỉ mình ta hành hạ ngươi đâu,” rồi nó triệu tập 12 tâm bất thiện đồng hành cùng hiện ra. 12 thực thể này tăng thêm. Vị tỳ-kheo lại tiếp tục khiển trách và mắng nhiếc chúng.

Chúng lại chỉ tay nói: “Không chỉ có chúng ta, còn có cả 10 phước nghiệp sự (Puñña-kiriyā) nữa kìa.” Thế là lại có thêm 10 thực thể nữa xuất hiện. Lúc này, ngài không còn sức để mắng mỏ gì thêm, cảm thấy không còn nơi nương tựa, ngài liền chạy trốn (trong tâm) về phía đức Phật. Nhóm kẻ thù vẫn đuổi theo sát nút. Nghe có tiếng gọi “Hãy đến đây!”, ngài chạy về hướng phát ra âm thanh và nhìn thấy một lâu đài vàng tráng lệ. Lâu đài có ba bậc thang; khi ngài lên đến bậc thứ nhất rồi bậc thứ hai, kẻ thù vẫn còn đuổi theo. Sau đó ngài lịm đi. Vừa khi tỉnh lại, từ bậc thang thứ ba ngài tiến vào bên trong lâu đài, lúc đó ngài cảm thấy thân mình tỏa ánh sáng vàng rực rỡ.

Trước mặt ngài là đức Thế Tôn vô cùng uy nghiêm, ngài vui mừng khôn xiết, ôm lấy chân Phật mà đảnh lễ. Ngài thưa thỉnh rất nhiều điều rồi khóc nức nở một trận thỏa lòng. Tiếng khóc ấy không chỉ là trong tâm tưởng mà ngài đã thực sự bật khóc thành tiếng, nước mắt tràn trề ướt đẫm.

Ngài **Saddhammālaṅkāra**, người đang hành thiền gần đó, nghe tiếng khóc liền ngoảnh lại nhìn. Thấy ngài đang khóc, vị ấy liền nói: “Chà... hiền giả **Visuddhācāra**, hỷ lạc (pīti) của hiền giả quả thật sâu dày thay!” Vị ấy không hỏi tại sao ngài khóc. Mặc dù nghe thấy lời nói đó, nhưng ngài vẫn không thể trả lời được.

[ Ghi chú: “Cảnh giới” (Ārammaṇa) có thể do tưởng tri (**Saññaja**) của tâm tạo ra; cũng có thể là do những chuyện thực sự đã xảy ra trong quá khứ nay hiện lại; hoặc cũng có thể do các thế lực phi nhân biểu diễn để đánh lừa. Cần phải lưu ý rằng nếu buông lơi đề mục quán chiếu Danh - Sắc của mình mà cứ chạy theo các cảnh giới đó thì sẽ không có điểm dừng. Ở đây, cũng xin lưu ý việc hành giả tự ý thực hành mà không trình báo hay thỉnh giáo thiền sư khi có những hiện tượng đặc biệt diễn ra, cũng như việc thiền sư tự ý chuyển đổi đề mục cho đệ tử. ]

### Tưởng rằng đã đắc quả Thánh

Sau khi được diện kiến đức Phật và khóc xong, sau khi cơn xúc động dần lắng xuống và nỗi khổ sầu tan biến, các tuệ giác về sự đáng sợ, lỗi lầm và sự nhàm chán đối với sinh tử bắt đầu hiện khởi. Lúc bấy giờ:

## TRANG 188

“Ta đã chứng đắc đạo đặc biệt, đạt đến Đạo cao Quả thượng rồi!” Với suy nghĩ (**Cintāmaya** - Tư tuệ, **Sutamaya** - Văn tuệ) như vậy, ngài lần lượt vượt qua 10 tiến trình của Tuệ quán và tâm **Adhimāna** (Tăng thượng mạn - ảo tưởng mình đã đắc thánh quả) lại khởi lên. Khi xả thiền và ngước nhìn lên bầu trời, sao Chitra đã lên đến đỉnh cung.

“À... ta đắc đạo vào đêm rằm tháng Tư (Tagu), đúng vào lúc nửa đêm,” ngài tự ghi nhớ trong tâm như vậy. (Người hành thiền thường có thói quen ghi lại những điều đặc biệt xảy ra).

Sáng hôm sau, ngài hân hoan đến gặp vị Thiền sư vốn là bậc đắc thiền định và thưa rằng: “Nhờ lòng từ bi rộng lớn của thầy mà con đã chứng đắc pháp đặc biệt (Đạo Quả) rồi.” Vị thầy đáp:

“Ừm... hiền giả **Visuddhācāra**, hãy giữ chánh niệm cho thật kỹ. Gốc rễ của **Avijjā** (Vô minh) và **Taṇhā** (Ái dục) vốn đã bám sâu vào dòng dõi phàm phu, rất khó đoạn tuyệt. Ví như một cây đa lớn bị sét đánh, dù cành lá có gãy đổ hết nhưng nếu rễ cái (rễ nuôi cây) không bị tổn thương, thì khi mưa xuống, từ gốc cây khẳng khiu ấy mầm non sẽ lại đâm chồi. Hãy thật trọng nấy!”

Sau khi ở lại với thầy một thời gian, vì bạn đạo là ngài **Saddhammālaṅkāra** không còn ở đó nữa, ngài quyết định từ giã thầy. Ngài nghĩ rằng vì đã đắc pháp rồi nên không cần thiết phải ở lại thêm. Với tâm lòng đại bi muốn chia sẻ sự an lạc này cho cha mẹ già, thầy tổ và chúng sinh, ngài trở về thị trấn Taungpila ở vùng Kambawza để nhập định trong rừng. Ngài vừa tự mình nỗ lực, vừa hướng dẫn cho nhiều người khác. Tính từ tháng Tư (Tagu) khi ngài tưởng mình đắc đạo, đến tháng 11 (Tazaungmon) là tháng thứ tám, các pháp ngủ ngầm (**Anusaya**) vốn ẩn giấu bấy lâu nay bỗng nhiên trỗi dậy.

“Chao ôi... lời thầy dạy thật đúng làm sao! Ta vẫn chưa vượt qua được dòng dõi phàm phu, gốc đa khẳng định nay đã đâm chồi rồi!” Ngài vô cùng hối hận và đau khổ. (Cần lưu ý rằng ngay cả các bậc thông thạo kinh điển cũng có thể gặp phải điều này. Pháp tánh vốn vô cùng sâu mầu).

Nhận biết rõ mình chưa tận diệt được phiền não, ngài **Visuddhācāra** tiếp tục nhiếp tâm hành trì các pháp trong khả năng và trải qua phần đời còn lại trong rừng sâu. Tùy theo ba-la-mật của mỗi người, nhiều đệ tử theo học ngài đã đạt được sự tăng trưởng trong tuệ giác **Samatha** (Chỉ) và **Vipassanā** (Quán), không ít người đã chứng đắc pháp. Về sau, do duyên sự không thuận lợi, ba-la-mật đã tận, ngài không còn ở trong tăng đoàn mà sống đời cư sĩ đạo hạnh (Yogī), tiếp tục hành thiền trong rừng cho đến năm 1234 (Miến lịch).

## TRANG 189

Ngài qua đời vào thời vua Thibaw. Trải qua năm đời vua, ngài đã tận hiến vì lợi mình và lợi người bằng giáo pháp tùy theo ba-la-mật của mình. Ngài thực sự là một bậc đại sĩ dành cả đời ẩn dật nơi rừng sâu.

(Về tiểu sử ngài **Visuddhācāra**, tôi đã tóm lược từ bản tiểu sử dài 27 trang tại vùng Demaisaik để đảm bảo sự đầy đủ và súc tích).