## TRANG 202

**Niccaṃ** = Không gián đoạn/Thường xuyên. **Sara** = Hãy ghi nhớ. Hoặc: Hãy quán chiếu về sự khổ của tính vô thường.

Trong lời thỉnh cầu của cư sĩ Cappiya Bo Lon Pyay và Bo Ohn, khi trình bày về các nhân tố dẫn đến việc đắc Đạo Quả, sau khi nêu rõ việc quy y Tam Bảo, giữ gìn ngũ giới thanh tịnh, luôn an trú tâm vào hình bóng Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế, và tầm cầu bậc trí giả để nương tựa, ngài [Thiền sư Thilone] đã giáo giới rằng:

"Đối với những người lấy Tuệ và Tấn (Nghị lực) làm tiền đề, lại sẵn có hai loại Nghiệp (Thiện nghiệp quá khứ và hiện tại), họ sẽ nhanh chóng thọ hưởng các hạnh phúc và lợi ích ở cả thế gian lẫn xuất thế gian. Hãy ghi nhớ rằng: chỉ khi có Trí tuệ đồng hành và nỗ lực nuôi dưỡng lòng tinh tấn thì quả báu của thiện nghiệp Ba-la-mật mới có thể phát khởi mạnh mẽ."

Đây là lời nhắc nhở rằng dù thiện nghiệp quá khứ (pubbe ca kata-puññatā) là yếu tố chính yếu, nhưng cần phải dùng Trí tuệ và Tấn lực của hiện tại để khơi dậy tiềm năng đó. (Xem thêm phần chú giải kinh Cakka, Tăng Chi Bộ Kinh, chương Bốn pháp). Tại trang 279 của bộ sưu tập đó, có một ghi chép rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu: "Đại trưởng lão Thiền sư Thilone, danh hiệu Ashin Candimā Laṅkāra, sinh năm 1148 (Miến lịch) và viên tịch năm 1222. Ngài trụ thế 75 năm."

### Lễ cúng dường đức tính Nhẫn nhục (Khanti)

Ngay từ thuở thiếu thời, Thiền sư Thilone đã biểu hiện sức mạnh nhẫn nhục phi thường. Khả năng chịu đựng trước những biến động của thế sự (Loka-dhamma) – dù nóng hay lạnh, khổ hay lạc, khen hay chê – chính là sức mạnh nền tảng cho bất kỳ ai muốn đạt đến đỉnh cao [của tâm linh].

Thuở ngài còn là Sa-di Candimā, một ngày nọ khi đang tắm dưới hồ, có một vị Sa-di lớn hơn đã đem giấu hết y phục của ngài. Sau khi tắm xong, Sa-di nhỏ Candimā không có y để thay, phải đứng chịu trận giữa trời lạnh đến mức run lẩy bẩy. Một lúc sau, vị Sa-di lớn kia xuất hiện, không những không trả y mà còn buông lời trêu chọc, hành hạ đủ điều. Sa-di nhỏ Candimā không hề nổi giận, vẫn cung kính thưa thỉnh; khi thấy không có kết quả, ngài lặng lẽ nhẫn nhịn đứng đó với tấm bình tự (y nội) ướt sũng.

Vị Sa-di lớn trêu chọc cho thỏa thuê rồi bỏ đi. Những bạn đồng tu khác thương tình đã đi lấy y trả lại cho ngài. Nhưng vị Sa-di lớn kia vẫn chưa dừng lại. Khi Sa-di Candimā vừa thay xong cả y nội lẫn y vai quế, anh ta từ chỗ ẩn nấp bước ra, xách theo bình nước đổ ập lên người ngài. Dù toàn thân ướt sũng một lần nữa, Sa-di Candimā vẫn giữ nguyên nụ cười trên môi.

## TRANG 203

"Ta không tin thằng bé này có thể nhẫn nhục như vậy nên mới thử xem sao," vị Sa-di lớn nói. Hơn bốn mươi năm sau, vào độ tuổi ngoài năm mươi, sự việc đó đã được nhắc lại. Khi ấy, một vị chủ thuyền giàu có ở vùng Hạ Miến đã chở một thuyền đầy ắp mắm, cá khô, thực phẩm và các vật phẩm cúng dường đến để dâng hiến. Đây là một đại lễ cúng dường vô song (asadisa) đối với một ngôi chùa rừng hẻo lánh và thiếu thốn. Sau khi vị chủ thuyền tha thiết đảnh lễ và trình bày sự tình, Thiền sư bảo:

"Khoan đã... khoan đã... này thí chủ, hãy đánh chiếc khánh gỗ (tùng) treo ở đằng kia. Đợi một lát."

Khi tiếng khánh vang lên báo hiệu, khoảng ba mươi vị Tỳ-khưu và Sa-di trong chùa rừng đã vân tập đến trước mặt Thiền sư.

"Này các thầy, các chú... hãy nghe thí chủ đây trình bày lý do vì sao ông ấy lại mang đến nhiều thực phẩm cúng dường như vậy," Thiền sư truyền bảo. Khi ấy, vị chủ thuyền thưa rằng:

"Thuở nhỏ, con vốn là bạn học thân thiết với Ngài, chúng con đã cùng nhau tầm học các bộ kinh điển lớn cho đến tận trước lúc xuất gia Tỳ-khưu. Vì không tin vào đức tính nhẫn nhục của Sa-di Candimā nên con đã mạo muội dùng hành động thực tế để thử thách. Nay nghe danh tiếng lẫy lừng của Thiền sư Thilone, con tìm hiểu thì biết đó chính là Sa-di Candimā năm xưa, lòng con vô cùng hối hận về những gì mình đã làm." Các vị Tỳ-khưu và Sa-di nghe xong đều hết sức xúc động và quan tâm, còn các chú Sa-di nhỏ thì hân hoan khi nhìn thấy những thực phẩm cúng dường.

"Trong giáo pháp, hạnh nhẫn nhục là cao quý nhất; cũng như thế, kẻ nào tìm cách hãm hại, áp chế người có đức nhẫn nhục thì sẽ chịu đại địa ngục, chịu tổn thất lớn nhất. Càng ngày con càng cảm thấy khiếp sợ, nên hôm nay con đến đây đảnh lễ Ngài để cầu xin sám hối, mong các ác nghiệp đã phạm được tiêu trừ," vị chủ thuyền tiếp tục thưa thỉnh. Thiền sư Thilone bèn huấn từ:

"Này các Tỳ-khưu, như các con đã nghe, nhờ có sự giáo huấn của thầy tổ và nhờ thông hiểu kinh điển nên thí chủ đây mới có thể suy xét được như vậy. Nhẫn nhục chính là pháp cao thượng nhất trong giáo pháp. Phải có Nhẫn (Khanti) thì các học giới về Giới, Định, Tuệ mới có thể phát sinh. Đức Thế Tôn và các vị Phật quá khứ đều lấy câu **Khanti paramaṃ tapo titikkhā** (Nhẫn nhục là pháp khổ hạnh tối thượng) làm tôn chỉ giáo giới cốt lõi.

Nhờ có Nhẫn mới có thể dễ dàng trì giữ Giới luật. Các pháp thiện như Từ ái, Định tâm... mới dễ dàng phát sinh. Có Nhẫn mới khuất phục được thù địch bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta không được phép sát hại những pháp thiện cao thượng này. Chỉ khi các pháp này hưng thịnh và trường tồn thì chúng ta mới có được hạnh phúc trong hiện tại và an lạc trong vòng luân hồi; vì vậy, cần phải giữ gìn và duy trì mạng mạch cho những đức tính này.

## TRANG 204

"Này thí chủ, ông đừng nghĩ rằng ông đang cúng dường những vật phẩm này cho bần đạo, cũng không phải cúng dường riêng cho tăng chúng này. Hãy ghi nhớ rằng ông đang cúng dường để tôn vinh đức tính Nhẫn nhục (Khanti) cao thượng – điều mà chư Phật các đời đều tán dương và giáo huấn.

Còn các vị Tỳ-khưu và Sa-di, các con cũng đừng nghĩ rằng những y phục, dù, giày dép và thực phẩm này là do thí chủ này cúng dường hay do bần đạo ban tặng. Hãy ghi nhớ rằng chính Pháp Nhẫn nhục đã ban tặng những thứ này cho các con." Ngài đã thuyết giảng như vậy không chỉ để người đương thời ghi tạc suốt đời mà còn để lại bài học cho con cháu đời sau. (Theo lời kể của Ngài U Kalyāṇa, Thiền sư Maung Daung thuộc tu viện Yadanabon, Mandalay).

Dù ẩn tu nơi rừng sâu mà vẫn được các bậc quân vương, hoàng hậu tôn kính cúng dường; dù tài năng xuất chúng về cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti), lại đắc cả Thiền định và Thần thông, nhưng cội nguồn sức mạnh tâm linh chủ chốt khiến ngài trở nên phi thường chính là đức Nhẫn. (**Sadatthapparamā atthā, khantā bhiyyo na vijjati** – Lợi ích của bậc thiện trí là tối thượng, không có gì cao hơn đức Nhẫn. Kinh Vepacitti, Tương Ưng Bộ).

### Cách tiếp cận của Thiền sư Kin-taw-ya

Dưới thời vua Mindon, Thiền sư Thilone vô cùng nổi tiếng trong lĩnh vực Pháp học. Trong khi ngài đang ở làng Thilone truyền dạy kinh điển cho đông đảo đệ tử, thì ngài U Khemacāra – người bạn học thân thiết từ thuở nhỏ tại đạo tràng của Thiền sư Namo lừng danh – thường xuyên đến thăm chùa Thilone vào mỗi buổi chiều. Ngài U Khemacāra lúc bấy giờ đang chuyên tâm tu tập Pháp hành tại vùng Kin-taw-ya, phía bắc Mingun, nên thường được gọi là Thiền sư Kin-taw-ya.

Thiền sư Kin-taw-ya thường vượt qua quãng đường xa xôi từ Sagaing Mingun đến ngôi chùa làng Thilone ở huyện Shwebo vào các buổi chiều chỉ để đàm đạo về Pháp học và Pháp hành.

"Này hiền hữu Thilone, tôi không dám chết khi chỉ mới dừng lại ở việc làm Pháp sư dạy kinh điển (Ganthadhura) và nhận sự cúng dường của người đời đâu," ngài mở lời, rồi dẫn dắt câu chuyện sang các chủ đề về Đạo Quả, về Niết-bàn, về khả năng đắc Thần thông trong thời đại này, cũng như về sự chứng ngộ, thấy rõ thực tính pháp và giá trị lớn lao trong công phu tu tập Định và Tuệ (Samatha - Vipassanā) dựa trên cả lý thuyết lẫn thực chứng. Với tâm từ bi muốn bạn mình cũng được nếm trải hương vị giải thoát, ngài âm thầm dẫn dắt, đóng vai trò của một bậc Thiện tri thức vô giá. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Thiền sư Thilone vẫn đặt nặng tầm quan trọng của Pháp học, tâm ngài vẫn thiên về kinh điển và chưa mấy bận tâm đến việc tu tập Thiền định hay Đạo Quả, vì cho rằng đó là những điều không dễ gì đạt được.