## TRANG 208

Vị ấy cũng kinh ngạc suy xét xem ngài đã đi bằng cách nào mà có thể đến nhanh như vậy. Khi người ấy vừa đến nơi thì ngài đại sư đã tắm xong rồi. Sau khi xong việc, ngài liền bảo người hộ tông (kappiya) rằng: “Này thiện nam, khi ta còn sống, con không được nói chuyện này cho bất kỳ ai biết.” Ngài đã dùng lời lẽ ngăn cấm như vậy, rồi từ trên hư không ngài trở về chùa. Người hộ tông ấy mãi đến khi ngài viên tịch mới dám tiết lộ chuyện này.

Liên quan đến sự việc đó, trong cuốn “Lịch sử Giáo hội Shwegyin” (trang 97) có ghi chú như sau:

Ngài đại sư Thiloong không chỉ có thế gian hiệp thông (lokiya abhiññā), mà không ai dám khẳng định rằng ngài không phải là bậc Lục thông (chaḷabhiñña) cùng với lậu tận thông (āsavakkhaya). Đặc điểm của các bậc thiện tri thức là họ thường có phong thái vô cùng kín đáo và thận trọng.

Xưa kia, tại núi Cittala, có một vị tỳ-khưu già phục vụ một vị đại trưởng lão A-la-hán. Một ngày nọ, khi đang đi theo sau cầm bát cho đại trưởng lão để đi khất thực, vị tỳ-khưu già hỏi rằng: “Bạch ngài, bậc Thánh (Ariya) là người như thế nào? Phong thái của họ ra sao?” Vị đại trưởng lão đáp rằng: “Này hiền giả, có những người tuy đi theo sau bậc Thánh, cầm y bát và luôn ở bên cạnh, nhưng vẫn không biết đó là bậc Thánh. Này hiền giả, bậc Thánh rất khó nhận biết như vậy đó.” Vị tỳ-khưu già ấy vẫn không hề nhận ra thầy mình chính là một bậc Thánh.

Lại nữa, ngài đại sư Jetawun ở Thaton từng có lời dạy với vị trụ trì Alakappa ở Sagaing rằng:

“Ngài đại sư Thiloong là một bậc đại Bất lai (Anāgāmī). Ngài biết rõ từ làng Thiloong đến Shwesettaw ở Minbu có bao nhiêu bước chân. Một bậc Bất lai có trí nhớ và sự tỉnh giác cực kỳ tốt. Không phải là ngài cố tình để tâm ghi nhớ, mà đó là bản tính tự nhiên.” Đây là lời kể lại được ghi chép lại.

Trong cuốn “Bhāvanānaya Dīpanī” do ngài đại sư Gu Kyaung ở khu rừng Thapyay San phía đông thành phố Magway viết vào năm 82 tuổi (in năm 1916 tại nhà in Sinton Tan Thathana Linkara Pitaka, Yangon) cũng chép rằng: “Vì ngài đại sư Thiloong thường xuyên tu tập thiền quán về **32 thể thân** (dvattiṃsākāra - 32 koṭṭhāsa), nên khi nhìn các thiện nam tín nữ đến chùa lễ bái, ngài không còn nhìn thấy hình tướng chúng sinh nam hay nữ nữa. Thay vào đó, ngài nhìn thấy trong khoảng không gian một hai tầm chiếu ấy, chỉ toàn là thịt, xương, gân, máu chất chồng lên nhau, giống như hình ảnh những con trâu bò chết bị chặt xẻ thành từng khúc.”

## TRANG 209

### Ngài đại sư Thiloong và ngài đại sư Thingaza

Khi danh tiếng của ngài đại sư Thiloong vừa mới lan xa, vua Mindon nghe tin đã vô cùng khởi tâm tịnh tín. Để hiểu rõ hơn về phẩm hạnh Pháp học (pariyatti) và Pháp hành (paṭipatti) của ngài cho chính xác, nhà vua đã thưa với các vị cao tăng hãy tìm cách dò xét. Các vị cao tăng đã chọn ngài đại sư Thingaza, một người thông hiểu kinh điển và có tài hùng biện, để phái đi.

Khi đó, ngài đại sư Thiloong đang trú ngụ tại chùa rừng làng Khatthin, gần bờ sông Ayeyarwady về phía bắc thị trấn Kyaukmyaung. Giữa làng và chùa có dòng nước ngăn cách, nên ngài đại sư Thingaza phải đi thuyền từ làng Khatthin sang chùa rừng. Khi ngài đến nơi vào một buổi sáng nọ, ngài thấy ngài đại sư Thiloong đang thong dong xỉa răng bằng que gỗ tăm (danpu). Ngài đại sư Thiloong đã giải đáp những câu hỏi hóc búa về Pháp học và Pháp hành mà ngài Thingaza đã chuẩn bị sẵn một cách rất dễ dàng trong khi vẫn đang thong thả xỉa răng.

Sau khi đã vấn đáp xong, lúc ngài đại sư Thingaza chuẩn bị đảnh lễ để ra về thì ngài Thiloong bảo rằng:

“Này Thingaza, dân làng Khatthin có thỉnh chúng tôi sang thọ thực. Con hãy dùng bữa xong rồi hãy về.” Ngài nói tiếp:

“Này Thingaza, lúc con đến đây, con qua sông bằng phương tiện gì?”

“Bạch ngài, con đi bằng thuyền ạ.”

“Ừm, vậy thì con cứ đi bằng thuyền về trước đi.”

Ngài đại sư Thingaza lúc bấy giờ không kịp suy nghĩ hay thưa hỏi gì thêm, chỉ đảnh lễ rồi lấy thuyền quay trở lại làng Khatthin như lúc đến. Khi thuyền vừa cập bến, ngài vô tình nhìn lên phía trên bờ thì thấy một vị tỳ-khưu đang đắp y, đó chính là ngài đại sư Thiloong.

Ngài đại sư Thingaza cảm thấy vô cùng mãn nguyện vì đã nhận được câu trả lời cho một nghi vấn mà ngài vẫn để trong lòng nhưng chưa kịp hỏi, sau đó ngài trở về kinh đô.

### Thuyết giảng dựa trên kinh nghiệm thực chứng

Ngài đại sư Mahasi khả kính trong phần lời nói đầu của cuốn “Phương pháp tu tập thiền quán (Vipassanā)” cũng đã viết rằng:

[Ngài đại sư Thiloong đã trở nên rạng rỡ như mặt trời, mặt trăng trong công hạnh **tu tập không phóng dật** (appamāda-paṭipatti).

## TRANG 210

Có lời kể lại rằng tại làng Sheimmaka, nhân dịp đại lễ kiết giới (sīmā), nhiều vị đại sư được triều đình phong tặng danh hiệu Rājaguru (Quốc sư) từ Mandalay, Sagaing và các nơi khác đã hội tụ về đây. Nhận lời cung thỉnh của đại chúng, ngài đại sư Thiloong đã thuyết giới và ban lời giáo huấn cho hội chúng tăng già. Khi thuyết pháp, ngài đã mở lời rằng: “Tôi sẽ thuyết giảng theo đúng những gì tôi đã tự tâm tác ý và nỗ lực thực hành.” Sau đó, ngài đã thuyết giảng một cách thấu đáo về cách thực hành thiền quán, các tầng tuệ giác Minh sát, cách chứng đắc đạo quả A-na-hàm và cách nhập vào quả định (phalasamāpatti).

Pháp thoại được thuyết giảng sâu sắc và vi diệu đến mức ngay cả các bậc đại sư thông hiểu tam tạng kinh điển cũng phải kinh ngạc. Vì thế, ngài đại sư Thingaza đã thưa rằng:

“Bạch ngài, nếu ngài biên soạn thành kinh sách theo đúng những gì ngài vừa thuyết giảng thì quả là điều tuyệt vời.” Khi đó, ngài đại sư Thiloong đã đáp rằng:

“Này Aggare (tên của ngài Thingaza), việc thuyết giảng hay tu hành thì có thể làm theo ý mình, nhưng nếu viết thành kinh sách thì phải làm cho phù hợp và đồng nhất với kinh điển của tiền nhân. Khi ta còn sống, nếu có ai thắc mắc thì ta còn có thể giải đáp, nhưng chẳng bao lâu nữa ta sẽ qua đời. Khi đó, ta e rằng những điểm khác biệt này sẽ gây ra sự tranh cãi về sau.” Đây là lời kể lại mà tôi (ngài Mahasi) được nghe từ ngài đại sư tu viện Ingyin Taw ở làng Seikkhun, một bậc trưởng lão thường có thói quen ghi nhớ kỹ lưỡng các tiểu sử cổ xưa.

Dựa trên lời kể lại trên, có thể thấy rõ rằng “ngài đại sư Thiloong đã không tự mình viết lại các công hạnh thực hành của ngài thành kinh sách”. Sở dĩ ngài không viết có lẽ là vì ngài nhận thấy vào thời kỳ đó có ít người sẽ thực hành theo. Còn về việc nói rằng “cách thực hành và kinh điển không giống nhau” thì có lẽ chỉ là sự khác biệt về thuật ngữ và tên gọi; còn về phương diện ý nghĩa và bản chất thì chắc chắn là phải đồng nhất.]

Trong số rất nhiều đệ tử của ngài đại sư Thiloong, có ngài đại sư U Mañjusā ở tu viện Alay Taw thuộc dãy núi Sagaing Mingun. Ngài là vị không màng đến các Phật sự khác, chỉ luôn hoan hỷ trong công hạnh **tu tập không phóng dật** (appamāda-paṭipatti). Ngài đại sư Jetawun Mingun, vị từng được học hỏi và thọ nhận phương pháp từ ngài U Mañjusā, từ hơn sáu mươi năm trước đã bắt đầu thuyết giảng và hướng dẫn một cách rõ rệt về công hạnh **Tứ Niệm Xứ không phóng dật** (appamāda satipaṭṭhāna).

Ngày nay, di sản tu tập **không phóng dật** (appamāda paṭipatti) này đã được ngài đại sư Mahasi khả kính kế thừa và đang được truyền bá vô cùng rộng rãi. Lời giáo huấn mà ngài đại sư Thiloong thường xuyên khuyên dạy là:
