## TRANG 211


155

**Dhale na bhavati paṅkaṃ, jaleneva visujjhati.**

**Cittena bhavati pāpaṃ, citteneva visujjhati.**

Bùn nhơ sinh ra từ nước (đất ướt). Duy chỉ nhờ nước mới tẩy sạch được. Ác nghiệp sinh khởi từ tâm. Duy chỉ nhờ tâm mới thanh tịnh được. (Những cấu uế bất thiện phát sinh do nơi tâm, chỉ khi dùng chính tâm ấy để gột rửa thì mới có thể trở nên trong sạch).

## TRANG 212

### Trưởng lão Thut Khaung (Htwut Khaung Sayadaw)

(1160 - 1242)

Dưới triều vua Mindon, bậc Đại đức có khả năng hoằng dương giáo pháp Hành Trì (Paṭipatti), trở thành chỗ nương tựa cho đông đảo hành giả tu hành, chính là Ngài Trưởng lão Thut Khaung. Ngày nay, dù ít người còn tường tận về tiểu sử chi tiết của Ngài, nhưng danh hiệu của Ngài vẫn được truyền tụng khắp nơi. Tại các giảng đường thọ giới (Uposatha), những lời giáo huấn của Ngài vẫn vang vọng cho đến tận hôm nay.

1. Hết thảy chúng sinh, hàng hữu học, luân hồi đã quá dài lâu.

2. Chẳng có cõi nào là định cư, chẳng có kiếp nào là vững bền.

3. Cứ ngỡ sẽ được, dòng tham ái, chỉ mang lại khổ lụy mà thôi.

4. Với thân và lực, chẳng biết thương, ngươi thật là lầm lạc lắm thay.

...

6. Sanh đặng làm người, chẳng hưởng quả, thật là tổn thất lớn lao thay.

7. Kiếp này chẳng rõ đạo vô sinh (Amata), kinh thành vàng ấy chẳng thấy mùi.

101 bài kệ tụng (Thanyauk) về đề mục thiền quán (Kammaṭṭhāna) của Ngài đã đi vào lòng người, ngay cả những cụ già không biết chữ cũng thuộc lòng. Sức lan tỏa của chúng trong công cuộc hoằng pháp còn rộng lớn hơn cả 13 bộ đại luận mang tên "Pamoja" do Ngài biên soạn (như Rāja Pamoja, Dhamma, Pīti, Pakiṇṇaka, Saṃvega, Ajjhāsaya, Samanta, Sādhujana Pamoja...). (Riêng bộ Rāja Pamoja đã được nhà in Hanthawaddy ấn hành).

Cuộc đời mong manh như bọt nước, dù hữu duyên gặp được giáo pháp nhưng chẳng dám dấn thân, cứ mỗi chỗ một ít, tâm cứ lưỡng lự hoài nghi, khiến kiếp sống phàm phu cứ mãi quanh quẩn trong vô vọng. Nếu đạt được thân người mà không có trí tuệ tỉnh thức, thì ngay cả mùi hương của Niết-bàn cũng không thể chạm tới. "Mỗi kiếp đều bại, như đá tảng giữa đời, chỉ còn đường chìm nghỉm mà thôi" - Những bài kệ của Ngài như những hồi chuông cảnh tỉnh mạnh mẽ, khiến những kẻ đang mải mê trong dục lạc phải rúng động, phát sinh tâm kinh cảm (Saṃvega) sâu sắc. Nó tựa như những nhát gõ dồn dập đánh thức những người đang ngủ say.

Khi Đức Thế Tôn xuất hiện và vang rền giáo pháp **Vô ngã (Anatta)**, ngay cả các bậc Đại Phạm thiên dù thọ mạng dài lâu tưởng chừng vĩnh cửu cũng phải run rẩy khiếp sợ. Những lời dạy của Ngài Thut Khaung cũng sắc sảo và chạm đến tâm can như thế. Nếu mỗi ngày kiên trì đọc tụng một lần, chắc chắn tâm tính sẽ có sự chuyển hóa và tiến bộ.

## TRANG 213


157

### Cuộc đời của Ngài Trưởng lão Thut Khaung

Trưởng lão Thut Khaung không chỉ nổi danh về phương diện Hành Trì (Paṭipatti) mà còn xuất chúng trong phương diện Pháp Học (Pariyatti). Ngay từ thời còn là Sa-di, Ngài đã đỗ kỳ thi Pathamagyi, bằng năng lực học thuật của mình, Ngài đã trở thành niềm tự hào của dòng tộc.

Ngài quê quán tại làng Myin Ka Kone, gần thị trấn Laymyethna, huyện Hinthada. Phụ thân là U Lu Gyi, mẫu thân là Daw May. Ngài sinh vào ngày rằm tháng Tabaung năm thăng 1160, lúc mặt trời vừa mọc, nhằm ngày thứ Ba. Tên thuở nhỏ là Maung Soe, Ngài có một người chị gái tên là Ma Ngwe. Năm Maung Soe 13 tuổi, Ngài gặp được bậc đại học giả từ kinh thành Ava là Ngài Trưởng lão Manyee Taw khi vị này đang tạm lưu trú tại tu viện Ngataw Kywe Khaing, vùng Laymyethna. Cha mẹ đã gửi gắm Ngài cho vị Trưởng lão này và không lâu sau Ngài xuất gia Sa-di, pháp danh là **Shin Ñāṇavanta**. Khi Ngài xuất gia, phụ thân của Ngài đã qua đời.

Khi Trưởng lão Manyee Taw quay về kinh thành Ava, **Shin Ñāṇavanta** đã xin phép mẫu thân để tháp tùng thầy về kinh đô. Thời điểm ấy là dưới triều đại vua Bodawpaya tại kinh đô Amarapura. Đến Ava, Ngài nỗ lực trau dồi Pháp Học. Nhờ trí tuệ nhạy bén, Ngài đã thông suốt các giáo trình tôn giáo vượt xa so với độ tuổi. Không chỉ có tướng mạo trang nghiêm, lục căn của Ngài cũng vô cùng thuần thục. Đúng như câu nói "Chỗ có ngọc quý, ngọc quý sẽ tụ hội", Ngài không chỉ tinh thông học thuật mà giới đức cũng vô cùng thanh tịnh, các hạnh nết (Caraṇa) không chút khiếm khuyết. Do đó, Ngài không chỉ được thầy yêu bạn mến mà còn nhận được sự hộ trì tứ vật dụng từ Hoàng hậu mang danh hiệu "Siri Pavara Tiloka Mahā Rājindā Ratana Devī".

**Pubbe ca kammaṃ, ariṅ khan, kyam taiṅ aoṅ samyè.**

**(Nghiệp từ kiếp trước là gốc rễ, mọi dự định ắt sẽ thành công).**

Người có **Năng lực Phước đức từ quá khứ** (Pubbe ca katapuññatā) mạnh mẽ, dù sinh ra ở nơi thấp kém thế nào, chính nghiệp ấy cũng sẽ đưa họ đến trú ngụ tại trú xứ thích hợp (Paṭirūpa).

Chính nghiệp ấy sẽ sắp đặt để họ gặp được bậc thiện tri thức và minh sư dù khó khăn đến mấy, khiến cho vòng quay **Hương nương tựa bậc thiện nhân** (Sappurisūpanissaya) tiếp tục vận hành.

Chưa dừng lại ở đó, để con đường đời không bị lệch lạc, khả năng tự kiểm soát và định hướng bản thân đúng đắn — vòng quay **Chánh tự hướng tâm** (Attasammāpaṇidhi) — cũng được điều hành bởi chính thiện nghiệp quá khứ ấy. (Đây là lời chú giải trong kinh Cakka, Tăng Chi Bộ).
