## TRANG 220


Khi ngài gật đầu, ngài đang suy ngẫm. Trong không gian tĩnh lặng, mát mẻ của vùng thung lũng núi rừng sâu thẳm, sau một hồi lâu im lặng trầm tư, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng, Ngài bèn hỏi thẳng:

“Hừm—Này các con, dù các con có giả làm dân nghèo, mặc quần áo lấm lem đi nữa, chẳng phải các con chính là các vương tử hay sao?”

Bị hỏi trực tiếp như vậy, họ không thể che giấu thêm. Hai anh em bèn đảnh lễ thưa thật rằng mình là con của vua Shwebo, là bào đệ của vua Pagan, gồm vương tử Mindon (chủ thành Mindon) và vương tử Kanaung (chủ thành Kanaung).

“Các vương tử vẫn còn phước báu để hộ trì Giáo Pháp. Nếu muốn xuất gia, hãy đợi đến sau này rồi hãy thực hiện,” Ngài ôn tồn giáo huấn như người thấu suất cả quá khứ lẫn vị lai. Nghe vậy, hai vương tử mừng rỡ không xiết, như thể đại kế hoạch đang còn dang dở của mình đã đạt được thành công. Có lẽ họ cũng đã tạm dừng những quyết định cấp bách mà họ đã định liệu trước đó.

“Chúng con xin tuân theo lời chỉ dạy của ngài,” hai vị thưa thỉnh rồi hủy bỏ hành trình, lưu lại tại vùng Hsin Ma Chaung, tự tay khiêng đá dọn đường, chỉnh trang lại nơi ở. Khi hai anh em sắp quay về và cử hành các phận sự hộ trì, Ngài đã thuyết giảng về năm điều khó gặp (Dullabha), về trị quốc minh chính (Thập vương pháp) và những lợi ích của việc sống đúng đạo hạnh. Cuối cùng, Ngài ban lời giáo huấn sâu sắc:

“Các con chớ để phước báu từ quá khứ bị hủy hoại bởi tâm si mê trong hiện tại. Cây cối đến thời mới ra hoa kết trái, không thể cưỡng ép mà xong. Hãy sống sao cho có trí tuệ và khéo léo.”

### Sức mạnh vô hình của các bậc thiện tri thức

Lời dạy của Ngài thật sâu sắc, trí tuệ của Ngài thật sáng suốt. Là người luôn giữ gìn chân lý, uy lực và đức độ của Ngài có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên người khác. Dù là người hiền hay kẻ hung hãn, Ngài đều có thể nhiếp phục họ trở nên thuần hậu mà không cần dùng đến gậy gộc, đao kiếm hay dây thừng. Ngài xứng đáng là bậc trưởng tử của Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của những kẻ đáng được điều phục (**Anuttaro Purisadammasārathi**).

Việc hai anh em vương tử đến gặp Ngài là vì họ đã biết trước trí tuệ siêu việt của Ngài nên đến để hỏi về sự thành bại của đại sự như xem bói? Hay do chư thiên dẫn dắt để dòng nước Pháp cam lộ hóa giải những mê lầm? Không ai có thể khẳng định chắc chắn.

Giữa thung lũng Hsin Ma Chaung, ba người họ gặp gỡ một cách tình cờ, nhưng từ đó...

## TRANG 221

...một sự chuyển biến vĩ đại đã diễn ra mà không ai hay biết. Trong lúc đất nước đang đứng trước bờ vực của một kiếp nạn (satthantara-kappa) với cảnh lửa cháy bừng bừng, người chết chóc vô số, thì chính tại thung lũng Hsin Ma Chaung này, kiếp nạn ấy đã âm thầm được tiêu trừ và dập tắt.

Nguyên cớ là hai anh em vương tử đang mang trong lòng đại kế hoạch phản kháng lại người anh là vua Pagan đang ngự trị tại Amarapura. Nếu họ không gặp được ngài Htut Khaung Sayadaw, không thể lường trước được có bao nhiêu chúng sinh sẽ phải chết chóc và chịu cảnh đói khổ. Trong thế gian này, sức mạnh vô hình từ những bậc thánh nhân đang tĩnh lặng tu hành thiền định, dù chỉ ngồi yên một chỗ nhưng có khả năng điều phối và giữ gìn trật tự cho thế giới, quả thật vô cùng lớn lao và nhạy bén. (Về sức mạnh của sự tĩnh lặng, xin xem chương về trưởng lão Nālaka trong kinh Sutta Nipāta).

Dù trông có vẻ như các Ngài đang lìa bỏ thế gian, chọn sự tĩnh lặng mát mẻ để tự giải thoát bản thân khỏi vòng luân hồi, nhưng thực tế, bằng năng lực tự nhiên của Giới (Sīla), Chân thật (Sacca), Từ ái (Mettā) và Nhẫn nhục (Khanti), các Ngài có khả năng kiềm tỏa và dẫn dắt cả thế gian mà người thường không thể nhìn thấy được. Điều này quả thật rất khó tin.

Thuở xưa, có vị đạo sĩ vốn là tiền thân của Phạm thiên Baka đã từng dùng thần lực để cứu giúp các đoàn xe buôn đang kiệt sức vì đói khát giữa sa mạc. Dù những người buôn ấy được uống nước dễ dàng nhưng họ không nhận ra ơn nghĩa của vị đạo sĩ. Phàm phu cũng vậy, thường lầm tưởng những bậc tu sĩ thiện tri thức là những người lãng phí thời gian, chỉ lo cho bản thân, mà không thấy được sức mạnh tĩnh lặng không phát ra âm thanh của các Ngài.

Giống như sức hút của ánh sáng khiến chúng sinh và vật chất đều hướng về, hay sức hút của mặt trăng âm thầm điều khiển thủy triều lên xuống (thậm chí ảnh hưởng đến cả những chum mắm), cũng như áp suất không khí luôn tồn tại để duy trì sự cân bằng của tự nhiên—những sức mạnh ấy dù không nghe thấy, không nhìn thấy nhưng luôn hiện hữu để điều phối thế giới.

So với những lực mà các nhà khoa học tìm thấy, sức mạnh của các bậc thiện tri thức còn lớn lao hơn gấp trăm ngàn lần. Chính vì vậy:

“**Yattha arahanto viharanti, taṃ bhūmi rāmaṇīyakaṃ**” – Nơi nào có các bậc A-la-hán trú ngụ, nơi đó trở nên khả ái, bình an và thoát khỏi mọi hiểm họa.

Chẳng cần nói đến các bậc ẩn sĩ nơi rừng sâu (Araññavāsī) như ngài Htut Khaung Sayadaw, ngay cả sự hiện diện của một vị tăng sĩ ở làng (Gāmavāsī) cũng có thể dùng đức độ của mình để...

## TRANG 222


...giữ gìn sự bình yên cho ba bốn trăm hộ gia đình. Nếu không có những vị chân tu như thế, người ta sẽ phải tốn kém nhiều chi phí và nhân lực hơn gấp bội cho việc an ninh và trật tự, vậy mà chắc gì đã đạt được sự thái bình và yên lạc thực sự.

Tuy nhiên, cũng giống như câu nói: "Khi dòng họ Sakya bị tàn sát, dù chính Đức Thế Tôn cũng không thể cứu vãn do nghiệp chướng của họ quá nặng," đối với những nghiệp cũ mà ngay cả chư Phật cũng không thể can thiệp, chúng ta cần nhìn nhận đó là ngoại lệ. Sức mạnh vô hình của thánh nhân và nghiệp báo của chúng sinh đều thuộc về những điều bất khả tư nghị (Acinteyya).

Ngài Htut Khaung Sayadaw tiếp tục trú ngụ tại Hsin Ma Chaung. Vào hạ thứ 34 (năm 1214 Miến lịch), vua Pagan bị phế truất, vương tử Mindon lên ngôi, và vương tử Kanaung trở thành hoàng thái đệ (Uparājā).

Khi hai anh em đạt đến đỉnh cao quyền lực, để tỏ lòng tri ân nời Ngài trú ngụ, vua Mindon đã tự tay góp sức xây dựng ngôi chùa chính ba tầng, còn hoàng đệ xây dựng thiền đường (caṅkama) tại Hsin Ma Chaung. Họ cũng cho khắc bia đá đặt tên nơi này là “Dhammika Chaung”.

Chưa dừng lại ở đó, họ còn thỉnh Ngài vào hoàng cung. Khi Ngài đến, trước mặt quần thần, vua đã dâng tặng danh hiệu cao quý **Rājaguru** (Quốc sư). Ngài bèn nói:

“Cái ấn triện lớn này dùng để làm gì? Ta thật xấu hổ nếu khi ta chết, người ta đặt cái ấn này bên cạnh quan tài của ta. Nếu các con có lòng thành kính, hãy thực hành theo những lời dạy của ta.” Nói rồi, Ngài quay trở về vùng núi Sagaing.

### Sự mỉa mai của ngài Bhamo Sayadaw

Dù sống trong rừng sâu, ngài Htut Khaung Sayadaw vẫn trở thành bậc thầy của quốc vương. Ngài cũng nhận những vật phẩm cúng dường về tứ vật dụng. Nhà vua còn ban cho Ngài đặc quyền ‘Gaṇavimutti’. ‘Gaṇavimutti’ có nghĩa là Ngài được phép hoạt động độc lập, không chịu sự điều hành hay triệu tập của hội đồng các bậc trưởng lão Sudhamma do nhà vua bổ nhiệm.

Ngài Sayadaw ở chùa San Kyaung cảm thấy không hài lòng với ngài Htut Khaung Sayadaw vì Ngài đã tiếp nhận vị tăng Shin Nāgasena – người bị đuổi khỏi chùa San Kyaung vì đã điên cuồng tự xưng mình là bậc A-la-hán. Sự việc được trình lên đức Tăng thống (Sāsanabaing) U Ñeyyadhamma. Vua Mindon khi hay tin...