## TRANG 223



Đã có lần [vua] tâu rằng: “Con đã làm lễ Gaṇavimutta (Giải phóng khỏi sự quản lý của tăng đoàn) để **Ngài Htut Khaung Sayadaw** không phải tuân theo mệnh lệnh của bất kỳ ai khác ngoại trừ lời dạy của Đức Phật.”

Vì chính vua Mindon đã nhận thấy ân đức mà thành kính cúng dường, nên những người khác trong hoàng cung cũng đua nhau cúng dường, bái lạy. Hoàng hậu Sinpyumashin đã dâng cúng một ngôi chùa gạch (Prasad), Trung cung Hoàng hậu dâng ngôi giới đường (Sima), Bắc cung Hoàng hậu dâng ngôi tịnh xá lớn bằng vải khô, mẫu hậu của hoàng tử Thonze là Hoàng hậu Khun-ywa, cùng các quan chức như quan trông coi rừng, quan thu thuế bạc... cũng dâng cúng các ngôi chùa khảm kính, bảo tháp, hang động (gu), gạo thóc, khiến cho vùng Dhammika Gyaung trở nên sầm uất, đông đúc đến mức 'chim bay không lọt'. Số lượng tăng chúng tu tập thiền quán lên đến hơn ba trăm vị, còn các thiền sinh cư sĩ và tu nữ (thilashin) thì vô cùng đông đảo.

Chính vì thế, Ngài Bhamo Sayadaw, người vốn có thói quen châm biếm bằng thơ ca, đã từng viết những lời mỉa mai rằng: "Cầm xâu chuỗi trên tay, vị Htut Khaung đó đang ẩn mình. Cùng với ông Shwe So có 'giới đức mượt mà' (thila chaw), cả vùng thung lũng ấy đã trở thành nơi ẩn náu trong rừng." (Từ *thila chaw* ở đây mang hai nghĩa: một là giới hạnh thanh tịnh, hai là cũng ám chỉ việc có nhiều tu nữ xinh đẹp).

Có một lần, chính Ngài Bhamo Sayadaw, khi đang ở cùng với các bậc tăng chúng tụ họp không xa Ngài Htut Khaung Sayadaw, đã nói vui với chúng tăng rằng: "Vị Htut Khaung của các ông giống như con bò không có dây mũi vậy."

Khi các vị tỳ-kheo trẻ hỏi: "Giống như thế nào thưa Ngài?"

Ngài cười và đáp rằng: "Chúng ta đây, lúc thì muốn gặm cỏ chỗ này, lúc lại muốn kéo cỏ chỗ kia, chẳng phải vẫn còn sợi dây mũi lủng lẳng đó sao? Còn ông ấy thì có thể thu thúc lục căn một cách tuyệt vời, chẳng cần đến sợi dây [kiểm soát] nào nữa cả."

Tuy nhiên, vì số lượng người kéo đến Dhammika Gyaung quá đông nên Ngài Sayadaw cảm thấy mệt mỏi. Ngài không thể tránh né hoàn toàn, nhưng cũng không muốn cứ ở mãi như vậy. Do đó, ít nhất mỗi mùa an cư Ngài thường lánh xa đại chúng để độc cư. Vào những năm tháng cuối đời, Ngài thường an cư tại chùa Rừng Shwe Myin Tin trên dãy núi Mingun, cách Dhammika Gyaung khoảng hai dặm về phía bắc. Nơi đây chính là địa điểm Ngài soạn thảo tác phẩm "**Rājapāmojja Kyam**" (Vương mẫu lạc luận) theo lời thỉnh cầu của **Vua Mindon**. Đó là vào tháng Tabaung năm thết 1220 (Mynamar).

### Nhờ ơn vua ban đặc ân, muôn dân được an lạc

Trong thời đại Mandalay, cũng giống như sự kính ngưỡng vô biên của vua và hoàng hậu, dân chúng cũng hết lòng tôn kính Ngài Sayadaw. Khi thấy Ngài nhận được sự ân sủng đặc biệt của nhà vua, thậm chí có thể nói là 'đứng trên cả đức vua', những người bị kết tội hoặc chịu hình phạt của triều đình thường đến cầu xin Ngài sự giúp đỡ.

## TRANG 224



Vào thời kỳ đó, Dhammika Gyaung giống như một tòa án lớn, và Ngài Sayadaw trở thành nơi nương tựa của những người phạm tội. Vì sự sống còn của chúng sinh đang gặp nạn, Ngài dù không muốn can dự nhưng cũng không thể chối từ.

Có một lần, hoàng tử Kyauk-sau mắc tội và bị giam trong ngục sắt. Vợ của hoàng tử là công chúa Yin-taw-ma-lay đã đến khóc lóc cầu xin trong khi Ngài Sayadaw đang thọ thực, và Ngài đã ra tay cứu giúp.

Lúc quan Yan-aung-myin bị bãi chức, ông đã đến nương tựa dưới bóng mát tâm từ của Ngài. Ngài bảo ông phải thọ trì bát quan trai giới dài ngày và học thuộc lòng các bản kinh Pali như **Kinh Chuyển Pháp Luân** (Dhammacakkappavattana Sutta) và **Kinh Tứ Niệm Xứ** (Satipaṭṭhāna Sutta). Khi Ngài Sayadaw vào cung, Ngài dẫn ông theo cùng và bảo ông đọc lại những bài kinh đã thuộc trước mặt nhà vua, đồng thời Ngài cũng nhắc lại những công lao trước đây của ông. Kết quả là ông được phục chức.

Ngài cũng từng cứu giúp ông U Chein ở làng Man-kyi-zin thuộc Sagaing, người mắc tội gian lận bán bông của triều đình rồi ngụy tạo hỏa hoạn; và 16 vị phú thương đã lén lút bán ngọc quý của hoàng gia sang phương Tây. Ngài cũng cứu giúp hai ông U Bo Maung và U Meit ở Sagaing, những người đã ăn cắp lúa mì của triều đình và bị nhà vua trừng phạt bằng cách mỗi người phải cầm một quả dừa, đi đến làng Than ở phía nam Ava – một vùng đất đầy rẫy bệnh sốt rét – và ra lệnh rằng 'khi nào dừa ra trái mới được quay về'. Ngài đã cứu họ tùy theo duyên sự.

Có một lần, quan huyện Sagaing là U Yo quá áp bức dân chúng, một thí chủ đã đem chuyện này tâu với Ngài Pakhan Sayadaw. Ngài đáp: "Ta không giải quyết nổi, hãy đến gặp Tăng thống (Thathanabaing)." Vị Tăng thống cũng nói rằng: "Ta chỉ quản lý giáo hội, chứ không quản lý được Htut Khaung." Được biết, quan huyện U Yo chính là đệ tử của Ngài Htut Khaung Sayadaw.

Lại có lần, những người liên quan đến tội phạm đang ẩn náu dưới bóng mát từ bi của Ngài Sayadaw, quan Thandawsint (Quan truyền lệnh) đã đích thân dẫn lính đến bắt giữ và xảy ra xô xát với các vị tỳ-kheo trẻ. Các vị tỳ-kheo trẻ đã đánh vào mặt và tai của quan Thandawsint. Khi quan về tâu lại với nhà vua, vua Mindon đã nói rằng:

"Này Khanh, những bậc thiện đức ấy vì quá sợ hãi nên mới trốn trong rừng, khanh lại đến đó xúc phạm họ, vậy hãy mau đi xin lỗi đi." Vua đã dùng những lời lẽ xoa dịu và bảo vị quan phải đến làm lễ tạ lỗi. Điều này có vẻ giống như người bị hại lại phải chịu thua, hoặc giống như nhà vua quá 'nuông chiều' các vị tăng sĩ. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là cách nhà vua dùng sự nhu hòa và lòng tôn kính đối với hàng Thích tử để giáo hóa một cách khéo léo.

Trong thời đại đó, có rất nhiều người gặp nạn vì đủ mọi loại tội trạng đã được Ngài Sayadaw cứu giúp và bảo toàn mạng sống. Ngài đã dùng giáo pháp để răn dạy họ "sau này không được làm như thế nữa", bảo những người cần học kinh sách phải chuyên tâm học tập, bảo những người cần hành thiền phải nỗ lực hành trì. Ngài đã dùng chính pháp để cảm hóa cả những kẻ hung ác trở nên thuần hậu.

## TRANG 225



Khi biết Ngài Sayadaw có uy tín lớn với nhà vua, chắc hẳn cũng có những kẻ muốn lợi dụng uy danh của Ngài để trục lợi cá nhân. Ngay cả từ thời Đức Phật, cũng đã có những người vi phạm luật pháp thế gian, những binh sĩ mệt mỏi với chiến tranh đào ngũ, hay những người lâm bệnh không có tiền chữa trị muốn nhờ danh y Jīvaka điều trị nên đã tìm cách nương nhờ cửa Phật. Đây chính là bản tính của con người.

### Quân thượng xảo kế đáng học hỏi

Bản thân vua Mindon vốn là một người có đức tin sâu dày nơi giáo pháp, đồng thời cũng nhận thấy rõ giới hạnh, định lực và trí tuệ của Ngài Sayadaw để tôn kính, nên việc nhà vua hết lòng ủng hộ và cung kính Tăng đoàn là điều không cần bàn cãi. Tuy nhiên, liên quan đến việc Ngài Htut Khaung Sayadaw cứu giúp những kẻ phạm tội, có thể có những ý kiến phê phán phiến diện cho rằng cả thầy lẫn trò đều quá nhu nhược, hoặc đã để việc đạo và việc đời (chính trị và tôn giáo) lẫn lộn với nhau. Nhưng thực tế thì không nên trách cứ như vậy.

Các bậc quân vương cai trị đất nước, về bản chất không vị nào muốn có người phải chịu tổn thất hay thiệt mạng vì hình phạt. Họ cũng không thích sự bất công gia tăng và luôn muốn giữ gìn uy quyền của mình. Dù ai đó phạm tội, sâu thẳm họ cũng không muốn trừng phạt, nhưng nếu không phạt thì không được.

Đặc biệt, đôi khi những người từng có công với mình hoặc những người thân cận lại phạm phải những tội lỗi không thể tha thứ, điều đó lại càng khó khăn hơn. Thả đi thì không được, mà trừng phạt thì không đành lòng. Nếu phải sửa đổi hay hủy bỏ pháp luật chung mà mình đã ban ra thì chẳng khác nào "nhổ ra rồi lại nuốt vào", điều đó làm tổn hại đến uy nghi của bậc quân vương. Khi ấy, họ thường sử dụng một mưu kế tinh vi sao cho "mật cũng ngọt mà sóc cũng chạy được" (vẹn cả đôi đường). Điều này được gọi là "Rājupāya" (Quân thượng xảo kế). Đây là một loại học vấn mà những người làm vua chúa buộc phải tinh thông. Các bậc minh quân đời trước đã làm, đời nay vẫn đang làm, và đời sau chắc chắn vẫn sẽ phải dùng đến phương pháp này.

Lấy một ví dụ... xảy ra dưới thời vua Bayinnaung. Khi vua Bayinnaung dẫn đại quân đi chinh phạt xứ Chiang Mai, vì trong thành không có quan trấn giữ nên tất cả những người dân Shan và Mon thuộc nhóm "Yaka-su"...

---