## TRANG 226

Vào thời điểm đó, các cư dân vùng biên giới xa xôi đã được huy động khẩn cấp để thành lập một lực lượng vệ binh bảo vệ kinh thành. Trước khi Vua Bayinnaung (Bureng-naung) trở về, đội vệ binh này đã chiếm giữ quyền lực trong bảy ngày; cảm nhận được hương vị của vương quyền, họ không muốn buông bỏ và nảy sinh ý đồ phản loạn, chống lại ngay cả ân nhân là Vua Bayinnaung. Sau đó, do lực lượng không tương xứng nên họ đã thất bại. Vua ra lệnh gom tất cả các chỉ huy quân đội lâm thời và quân lính dưới quyền vào một dãy lán lớn rồi phóng hỏa thiêu sống. Những người lính như gà nhốt trong giỏ, không lối thoát, vô cùng hối hận và than khóc thảm thiết. Nhà vua vốn đã hạ quyết tâm thực hiện kế hoạch. Tuy nhiên, trước khi phóng hỏa, chính nhà vua đã tìm cách gián tiếp khẩn cầu các vị Cao tăng đứng ra thay mặt để xin tha mạng (chỉ những kẻ cầm đầu mới bị hành quyết). Nhờ đó, uy tín của Giáo pháp (Sāsana) càng thêm hưng hiển; đây chính là sách lược "ba người khiêng bình vàng" (Rājūpāya) của bậc quân vương.

Ngày nay, dựa trên những dịp đại lễ, người ta cũng thường thực hiện việc ân xá hoặc giảm án cho phạm nhân. Đó là những việc nên làm đúng thời điểm.

### Vị bác sĩ người Đức Mabe (Dr. Marbt)

Những người suy ngẫm và đón nhận pháp hành thiền (Bhāvanā) của Ngài Trưởng lão Htut Khaung không chỉ có người Myanmar mà còn có cả những người Châu Âu sống thời đó. Trong số đó, bác sĩ người Đức Mabe là người đi đầu. Dưới thời Vua Mindon, nhà vua đã xây dựng các nhà thương cho người già và người bệnh, cấp lương bổng để khuyến khích việc chăm sóc y tế. Bác sĩ Mabe là một ngự y nhận bổng lộc của hoàng gia. Thông tin về ông đã được đăng trên tờ báo "Loki Thuta Pyinnyā" xuất bản tại Yangon vào thứ Bảy, ngày 7 tháng Giêng năm 1238 (20/01/1877) như sau:

"Ngài Mabe, người gốc Đức, trước đây từng làm quản lý rừng cho chính quyền Anh tại Yangon một cách mẫn cán. Sau đó, ông lên Mandalay, thề trung thành với Đức vua Myanmar, bỏ trang phục phương Tây để mặc đồ Myanmar. Trong lúc đang phục vụ với vai trò quản lý rừng (từ năm 1238), ông đã qua đời. Tang lễ của ông đã được tổ chức ngay trong khuôn viên nhà riêng với sự cung thỉnh các vị Tỳ-khưu Myanmar đến làm lễ hỏa táng."

Thực tế, bác sĩ Mabe đã chuyển từ Kitô giáo sang Phật giáo, không chỉ là một cận sự nam (Upāsaka) thuần thành mà còn cúng dường một ngôi chùa tại Dhammika Chyaung và trở thành một thí chủ hộ trì (Kyaung-daga).

## TRANG 227

### Phước báu lớn và vật dụng dồi dào

Ngài Trưởng lão vốn có phước đức lớn lao và vật dụng hộ trì dồi dào từ khi còn trẻ. Đặc biệt là vào thời kỳ Mandalay, phước báu và sự lợi lộc của Ngài lớn đến mức không ai sánh kịp; điều này đã được Ngài Ngã-su Sayadaw ở phía tây Mandalay, người từng sống cùng thời, kể lại.

Bên cạnh Ngài Trưởng lão có một người hộ tăng (kappiya) tên là U Shwe Yin. Người này thường cùng Ngài vào cung điện và được phép tự do ra vào nội cung. Ngài Trưởng lão thường ưu ái nói rằng: "Này, người dân quê này chưa từng thấy hoàng cung, hãy cứ để ông ấy ra vào tự nhiên," nhờ đó ông có quyền ra vào cửa bắc, cửa nam mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Có một lần, khi mặt trời sắp lặn, Ngài Trưởng lão hỏi: "Này Shwe Yin, sáng mai ta muốn dâng cúng dường đến 300 vị Tăng với đầy đủ bình bát, túi lọc nước, dừa và chuối, liệu có làm được không?" Dù biết rằng việc chuẩn bị vào đêm khuya là rất khó khăn, nhưng để làm hài lòng và hoàn thiện ba-la-mật (pāramī) cho thầy, ông đã thưa: "Bạch Ngài, có thể làm được ạ." U Shwe Yin lập tức sắp xếp, rời khỏi Dhammika Chyaung, dùng thuyền của bến đò Kho-taung dưới danh nghĩa lệnh của Ngài Trưởng lão để đi vào kinh thành. Khi đến một ngôi nhà của một vị đại quan thư lại (Sā-yay-taung-gyi), sau khi nghe trình bày sự việc, vị quan rất hoan hỷ nói:

"Tốt lắm, đừng báo cho ai khác, hãy để một mình tôi thực hiện phước sự này. Tôi sẽ dâng cúng không chỉ 300 mà là 500 vị Tăng." Lập tức họ huy động người làm, nấu nướng và vượt sông sang Sagaing khi trời đã quá nửa đêm. Vừa đến nơi, họ bắt tay vào nấu nướng ngay và sáng hôm sau đã có thể dâng cúng đến 500 vị Tăng.

Trong buổi lễ cúng dường, đích thân Ngài Trưởng lão đứng giám sát, quan sát với tâm vô cùng thanh tịnh và hoan hỷ. Khi các vị Sa-di nhỏ đi qua, Ngài còn nhắc: "Hãy dâng thêm cho các con nữa," khiến cho lễ vật được dâng cúng tràn đầy.

Vị quan thư lại vì việc này mà không thể vào chầu điện đình ngày hôm đó. Ngày hôm sau, khi Đức vua hỏi nguyên do, ông đã tâu trình toàn bộ sự việc. Đức vua phán rằng:

"Ngươi thật là người có phước lớn! Ngài Trưởng lão đã không yêu cầu ta cúng dường việc này mà lại dành cơ hội cho ngươi. Ngươi thật sự có duyên may. À... vậy thì hãy để ta cũng được góp phần phước báu cho 300 vị Tăng này." Nói xong, nhà vua đã ban thưởng 300 đồng bạc cho vị quan.

**Puññavantānaṃ devatā paripācenti** = Đối với những người có phước đức, chư Thiên sẽ giúp chuẩn bị thức ăn (Chú giải Sammmoha). Đúng như vậy, bữa thực phẩm cho 500 vị Tăng với đầy đủ

## TRANG 228

bình bát, dừa và chuối được chuẩn bị xong tức khắc; thật khó mà tin được điều này có thể thành tựu chỉ bằng năng lực của người thường hay những người có giới hạnh tầm thường.

Vì vậy, trong kinh "A-kankheyya Sutta" (Trung Bộ) và "Sukhapatthanā Sutta" (Itivuttaka) đã dạy trực tiếp rằng: "Dù là tăng hay tục, người muốn có đầy đủ bốn món vật dụng thì hãy nỗ lực trau dồi giới hạnh (Sīla)."

Khi tuổi đã cao, Ngài Trưởng lão từ bỏ việc trì bình khất thực (Pattapo-na) và hạnh nhất tọa thực (Ekāsanik), Ngài thọ thực ba lần mỗi ngày. Bữa sáng tinh sương của Ngài được chuẩn bị với 50 món ăn. Sau khi thọ thực xong, Ngài chờ một lát rồi lại đi khất thực. Những người dân từ Mandalay, Amarapura, Sagaing, Inwa... thường đợi sẵn tại một giảng đường lớn bằng gạch (Ot-sa-rut) trước khi Ngài đến. Sau khi khất thực xong, Ngài lại thọ thực một lần nữa ngay tại đó, rồi sau đó khi về đến chùa lại thọ thực thêm một lần nữa. Có lẽ Ngài làm vậy là vì lòng bi mẫn đối với đức tin (saddhā) của các thí chủ.

Đối với các bậc thiện trí, có những lúc lợi lộc dồi dào hơn mức cần thiết, nhưng cũng có những ngày họ hoàn toàn không có gì để thọ thực. Bất cứ điều gì quá dư thừa cũng có thể trở thành một sự chướng ngại. Đối với những bậc đã hoàn tất phạm hạnh thì không đáng ngại, nhưng với người đang tu hành, cần phải tỉnh thức để không bị cuốn trôi trong cái gọi là "phước báu".

Nhìn vào những ân đức đáng được cúng dường (Āhuneyya, Pāhuneyya) này, chúng ta có thể phần nào ước đoán được Giới - Định - Tuệ của Ngài Trưởng lão Htut Khaung. Nếu không đạt được một trạng thái an vui thực tại (Diṭṭha-dhamma-sukha-vihāra) thì việc một mình ẩn tu trong rừng sâu suốt 30 năm, nhẫn chịu muôn vàn gian khổ, chắc chắn là điều không hề dễ dàng.

Dù trong thời kỳ lợi lộc dồi dào vô biên, hay lúc kham khổ ăn uống đạm bạc, Ngài vẫn giữ được tâm bình thản theo đúng Trung đạo (Majjhimā-paṭipadā) và đức tính "Tādi-guṇa" (tâm bất biến trước tám ngọn gió đời). Đó chính là nếp sống của các bậc Thánh nhân.

Sau nhiều năm quên mình phụng sự lợi ích cho chúng sinh, dùng năng lực tu tập thực hành (Paṭipatti) vô biên để hộ trì dân tộc, tôn giáo và Giáo pháp, vào lúc 1 giờ sáng (giờ Myanmar) ngày 1 tháng Sáu nhuận (Waso) năm 1242, ở tuổi 81 và 61 hạ lạp, Ngài Trưởng lão Htut Khaung đã thị tịch (chấm dứt sắc pháp do nghiệp sinh) ngay tại ngôi chùa của bác sĩ người Đức Mabe ở Dhammika Chyaung.