## TRANG 247

Ngay cả những dự định và ý tưởng của một người cũng không hề biến mất. Người ta tin rằng mọi thứ liên quan đến người đó đều để lại dấu ấn.

Nếu một người từng sống trong một căn phòng, dù thế giới có tan rã, những bóng dáng tư duy của người đó vẫn luôn hiện hữu trong căn phòng ấy.

Trên thế giới này, bóng dáng, dấu vết và tư duy của những người từng thành công trong các lĩnh vực thế gian, xuất thế gian, quân sự, kinh tế... từ thuở xa xưa vẫn luôn lan tỏa và tồn tại vĩnh cửu.

Người ta tin rằng khi quý vị giữ tâm trống rỗng, tĩnh lặng (lìa xa triền cái - *nīvaraṇa*), quý vị có thể tiếp xúc với những phương cách cũ mà không cần nỗ lực quá mức, từ đó nảy sinh trí tuệ lóe sáng tức thời và đạt được thành công tiến bộ trong lĩnh vực mong muốn. Có rất nhiều ví dụ minh chứng cho điều này.

Trong công phu thực hành (*paṭipatti*), cũng có những hành giả và những minh chứng thực tế tin rằng khi ngồi thiền tại những nơi như ranh giới giới đàn (*sīma*) hay nơi cư ngụ mà các bậc Thánh A-la-hán thủa trước từng thiết lập và sinh sống, thì việc đắc Pháp sẽ trở nên dễ dàng hơn. Còn đối với các bậc Thánh A-la-hán vẫn đang hiện tiền thì không còn gì phải bàn cãi.

Lời dạy: "**Dhātuso va, bhikkhave, sattā saṃsandanti samenti** (**Dhātusaṃyutta Pāḷi**) - Này các Tỳ-kheo, chúng sinh tùy theo giới tính chất (*dhātu*) mà hòa hợp, tụ họp với nhau" chính là minh chứng cho điều này.

Đây chỉ là những trình bày sơ lược về việc có thể tiếp xúc và kết nối với các "thánh giới" (*ariya-dhātu*) không hư mất, có liên quan đến tâm lý học và khoa học.

Nói thêm một chút về hào quang, có lần khi Đức Thế Tôn đến làng Bà-la-môn Venāgapura, người ta đã chiêm ngưỡng làn da của Ngài rạng rỡ, sáng ngời như quả thốt nốt chín, như quả táo ta chín, hay như vàng ròng Jambu vừa được trui rèn. Các vị Bà-la-môn đều kinh ngạc trầm trồ. Tuy nhiên, vị Bà-la-môn Vacchagotta lại cho rằng vì Ngài được nằm trên giường nệm mềm mại bằng lụa nhung nên làn da mới sáng đẹp như vậy, và đã lên tiếng hỏi. Khi ấy, Đức Thế Tôn phán rằng: "Các Tỳ-kheo khó lòng có được giường nệm mềm mại, mà nếu có thì cũng không phù hợp với các Tỳ-kheo," rồi Ngài giải thích về ba loại nơi cư ngụ cao quý mà các Tỳ-kheo thường sử dụng và an lạc.

Ba loại nơi cư ngụ (**uccāsayana mahāsayana**) đó là: (1) Thiên trú (an tâm bằng bốn tầng Thiền - *jhāna*), (2) Phạm trú (an tâm bằng bốn tâm cao thượng - *brahmavihāra*),

## TRANG 248

(3) Thánh trú (an tâm bằng cách nhập vào Thiền quả - *samāpatti*). Ý chính của Ngài là khi sống bằng một trong ba cách này, làn da sẽ trở nên thanh tịnh và hào quang sẽ tỏa ra. (**Tika Aṅguttara, Venāgapura Sutta.**)

Ngày nay, các hành giả cũng nhờ thực hành quan sát và tu tập như vậy mà tâm trở nên thanh tịnh, sắc thân thanh tịnh và hào quang tỏa lộ. (Vấn đề này cũng sẽ được trình bày trong chương về Ngài Thiền sư Gandhayone và Ngài Thiền sư Thekkyetaung.)

Chắc hẳn quý vị cũng từng đọc qua chuyện ông trưởng giả Anāthapiṇḍika khi đi buôn bán, vì tâm tha thiết muốn đỉnh lễ Đức Phật nên đã khởi hành từ khi trời chưa sáng; nhờ vào tâm hỷ lạc tùy niệm Phật (*Buddharammaṇa-pīti*) mà hào quang tỏa ra từ thân mình đã giúp ông có thể đi lại trong đêm tối.

Hào quang của Đức Thế Tôn luôn rực rỡ lan xa tới tám mươi sải tay (*hattha*), nhưng người thường chỉ thấy được khoảng một tầm.

### Tự mình sắp xếp tang lễ

Hiện nay, đối với Ngài Sayadaw U Thayarshun, sự sáng rực ấy không phải do chư Thiên hay Phạm thiên đến lễ bái, mà chính là nhờ thần lực của thiền đề mục (*kammaṭṭhāna*) được tạo ra từ việc tu tập quan sát Pháp (*bhāvaniddhi*). Ngài đã ngăn cấm vị hộ tăng U Pwa Paw không được nói chuyện này cho bất kỳ ai biết. Cho đến khi nhập Niết-bàn, Ngài không tham dự bất kỳ sự kiện vui buồn nào. Ngài sống tách biệt với đám đông đến mức tối đa. Quả thực, đám đông là điều đáng sợ vậy.

Đối với một hành giả thiếu nền tảng chánh niệm - định lực (*sati - samādhi*) và sự hiểu biết từ ái, thì đám đông – dù là người thân thiết – cũng có thể gây ra nhiều loại khổ đau và quấy rầy bằng cách này hay cách khác. Ma vương vốn không thể bắn trực diện vào hành giả trong mỗi lần quay chuyển, nên thường thông qua những người thiếu hiểu biết ấy mà gây khó khăn, giống như việc một mồi lửa nhỏ có thể thiêu rụi cả tòa lâu đài. Từ những trải nghiệm thực tế đó của người hành trì, sự sợ hãi đối với đám đông có lẽ đã nảy sinh.

Từ sau tuổi 70 cho đến năm 1282 (99 tuổi), Ngài Sayadaw cư ngụ ẩn dật tại ngôi chùa ba tầng ấy. Ngài không hề có bệnh tật gì đặc biệt. Vào tháng Tabodwe năm đó, Ngài mời các bậc kỳ lão và chư Tăng trong vùng đến chùa. Vì là lần đầu tiên được mời, mọi người đều hân hoan tụ họp.

Khi mọi người đã đông đủ, Ngài Sayadaw nói:

"Việc tôi mời mọi người đến hôm nay không có gì khác ngoài việc: sau khi tôi mất,

## TRANG 249

xin đừng tổ chức lễ hội linh đình. Các vị Sư cũng xin đừng đứng ra hỗ trợ (tổ chức linh đình) như vậy." Vì thấy Ngài vẫn tươi tỉnh, khỏe mạnh nên mọi người đều nói:

"Bạch Thầy, vào lúc này xin Thầy đừng nói những lời ấy. Khi thời khắc đến, chúng con sẽ thực hiện theo ý nguyện của Thầy." Về phần các vị kỳ lão, Ngài đã yêu cầu họ thề nguyện để ngăn chặn trước việc tổ chức linh đình.

Những hành giả tu pháp Anāpāna (Niệm hơi thở) thường có thể thấu triệt chính xác thời điểm mình qua đời đến từng phút.

Ngài cũng khuyến tấn rằng: "Trong tang lễ của tôi, xin đừng để xảy ra điều bất thiện thay vì được phước báu. Chư Tăng và các vị lãnh đạo bản làng hãy nỗ lực dẫn dắt việc tu tập thiền quán (*bhāvanā*) để xứng đáng với việc gặp được Giáo Pháp cao quý."

Vị hộ tăng U Pwa Paw thường xuyên tẩm quất và phục vụ Ngài vào mỗi buổi tối trong khi lắng nghe thuyết Pháp. Vào một đêm nọ, khi Ngài đang nằm cạnh chiếc tủ bưu điện trong ngôi chùa ba tầng để được phục vụ:

"Này con Pwa Paw, thời nay hiếm có cả Tăng lẫn tục thực lòng tin vào Tam Bảo. Mọi việc đều phải tin rồi mới làm, mà có làm thì mới thấy được những điều đáng tin con ạ. Có tin thì mới thực sự dựa dẫm (nương tựa), mà đã nương tựa thì lợi ích trong hiện tại lẫn vòng luân hồi đều trở nên to lớn." Ngài thong thả nói những lời sâu sắc ấy trong khi U Pwa Paw đang bóp chân nghe. Sau một hồi xoa bóp tay chân, tiếng của Ngài im bặt.

Đang là tháng Tabaung nên thời tiết rất nóng nực. U Pwa Paw vẫn tiếp tục lắng nghe tiếng Pháp của Ngài, nhưng không thấy gì nữa. Chiếc đèn gương treo cạnh tủ bưu điện cũng tự động tắt lửa. Cả ngôi chùa ba tầng chìm trong bóng tối. U Pwa Paw cảm thấy bất an, vội thắp đèn lên rồi nhìn lại Ngài thì vô cùng đau xót. Sayadaw U Thayarshun (U Kavinda) đã chấm dứt thọ hành (*āyu-saṅkhāra*) và vĩnh viễn nhập vào cõi tịch diệt Vô vi (*Asaṅkhata*).

### Chỉ đến khi thấy Xá-lợi mới hối tiếc

Ngày Ngài nhập Niết-bàn ấy, thật đặc biệt khi Ngài vừa tròn 99 tuổi, 9 tháng và 9 ngày. Dù gặp phải bất kỳ hoàn cảnh nào, sự sắp đặt của định nghiệp (*kamma*) vẫn vô cùng chính xác, không hề sai lệch. Dù Ngài thọ đến trăm tuổi, nhưng do căn tính Ba-la-mật của Ngài và nghiệp lực yếu kém của chúng sinh, nên số lượng người có duyên được Ngài tế độ có lẽ không nhiều.