## TRANG 250

Tang lễ được tổ chức theo đúng di nguyện của Ngài. Vị đệ tử thân cận của Ngài là Ngài U Su Pan (mẹ là Kokko Su, cha là Ka Toe), quan viên truyền tin (Thandawsint) của thành phố Mandalay, đã đứng ra lo liệu ngôi điện thờ Niết-bàn (Nibbana-san kyaung) cùng việc tiếp đãi thực phẩm bốn phương (catudisā) cho tất cả các đoàn khách đến viếng. Để bớt gánh nặng cho các hộ độ (daka dakamā) tại địa phương, Ngài quan viên truyền tin đã tự mình đài thọ toàn bộ chi phí cho lễ hỏa táng.

Sau khi hỏa táng, chỉ có xương đùi, xương hông và xương ống chân là còn giữ nguyên hình dáng xương, còn lại tất cả da thịt và các xương khác đều biến thành Xá-lợi (dhātu). Một số viên xá-lợi nhỏ mọc ra từ ba khúc xương lớn ấy như những nụ hoa kết thành từng chùm. Ba khúc xương lớn này sau đó đã được tôn trí bên trong bảo tháp xá-lợi (Arū-oe Ceti) tại cửa ngõ vào chùa Tàu (Taung Kyaung), làng Oke-aing.

Nghe nói rằng trong ngôi tháp ấy, xương của Ngài đã được để chung với xương của hai vị trụ trì khác. Riêng các viên xá-lợi thì được chia ra để các nơi thỉnh về cúng dường; hiện có thể chiêm bái tại chùa Oke-aing và tại tu viện Maung Htaung Yunn Satt. Ngài Kani Sayadaw cũng đã thỉnh bảy viên xá-lợi về và thường xuyên dâng đèn cúng dường hàng đêm.

Chính người viết bản tiểu sử này cũng đã thỉnh một phần xá-lợi từ Ngài trụ trì tu viện Yunn Satt để cúng dường. Những viên xá-lợi này là những phần đầu tiên được trích ra từ tráp xá-lợi vốn đã được niêm phong kỹ lưỡng tại chùa Oke-aing kể từ khi Ngài viên tịch (Parinibbāna). (Xem ảnh minh họa).

Khi tận mắt chứng kiến xá-lợi hiện ra sau lễ hỏa táng kim thân của Ngài, hàng tứ chúng đệ tử đều không khỏi xúc động, vừa thương tiếc vừa hân hoan xen lẫn niềm tàm quý sâu sắc. Một số người cung kính suy tôn Ngài là bậc **Thế-đầu A-la-hán** (Samasīsī Arahanta) — tức là hạng A-la-hán nhập Niết-bàn ngay sau khi đắc quả.

(**Về ba hoặc bốn loại Samasīsī Arahanta, có thể xem chi tiết tại: Puggala-paññatti Pāḷi-116; Abhi-ṭṭha-3. 37, Aṅ-ṭṭha-3, 149; Saṃ-ṭṭha-1, 168; Paṭisaṃ-ṭṭha-1, 39.**). Tuy nhiên, dù thời gian từ khi đắc quả đến khi viên tịch không dài, nhưng cũng không thể khẳng định chắc chắn Ngài thuộc hạng Samasīsī.

### Có phải vị A-la-hán nào cũng để lại xá-lợi?

Tại đây, thiết nghĩ cũng cần trình bày sơ lược để quý vị am tường thêm về câu hỏi: "Có phải tất cả các bậc A-la-hán khi nhập Niết-bàn đều để lại xá-lợi hay không?". Xin được tóm lược như sau: Đối với chư Phật Chánh Đẳng Giác, việc để lại xá-lợi là điều hiển nhiên không cần bàn cãi, như đã được ghi rõ trong **Kinh Đại Bát Niết-bàn** (Mahā-parinibbāna Sutta). (**Sutta Mahā-vagg-aṭṭhakathā-196**). Với chư Phật Độc Giác (Paccekabuddha), trước khi nhập Niết-bàn, các Ngài phải nhập định thần thông và phát nguyện

## TRANG 251

thì mới có thể để lại xá-lợi. (**Sutta-nipāta Aṭṭhakathā - Ratana Sutta; Khaggavisāṇa Sutta-117**).

Đối với các bậc Đại A-la-hán cũng vậy, xá-lợi chỉ lưu lại khi các Ngài có lời phát nguyện tương ứng. (**Aṅ-ṭṭha-1, Vaṅgīsa-vatthu-209**).

Xá-lợi của Ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) còn lưu lại trắng muốt như vỏ ốc mới mài. (**Mahā-vagga Saṃyutta Aṭṭhakathā - Cunda Sutta-254**).

Ngài Đại đức Dabba thì thị hiện tọa thiền kiết già trên hư không, nhập định và phát nguyện dùng hỏa giới (tejo-dhātu) thiêu đốt kim thân đến mức không còn lại dù chỉ là một nắm tro tàn. (**Udāna Aṭṭhakathā - Dabba Sutta-389**). Có lẽ vì khi còn tại thế, Ngài Dabba từng bị vu khống và gặp nhiều lùm xùm liên quan đến sự thanh tịnh, nên Ngài đã không để lại xá-lợi chăng?

Ngài Đại đức Bākula, bậc đệ tử trường thọ, vì không muốn làm phiền lụy đến người khác nên đã tự mình nhập hỏa giới trong tư thế ngồi để nhập Niết-bàn, khi ấy xá-lợi rơi xuống đẹp tựa những nụ hoa lài. (**Upari-paṇṇāsa Aṭṭhakathā Bākula Sutta-140**).

Ngoài ra, còn một điểm đáng lưu ý đã được giải thích trong (**Chú giải Kinh Āmagandha thuộc Kinh Tập-303**): "Kim thân của các bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc (kilesā āsava) thì sẽ không bao giờ phát ra mùi hôi thối".

[Về các đốt xương nối kết, xin xem thêm chương về Ngài Mogok Sayadaw.] Qua những dữ liệu về việc lưu lại xá-lợi của Ngài U Sīla (trong lịch sử Phật giáo thực hành Myanmar) và vị Sayadaw này, chúng ta có thể tin tưởng và hoan hỷ khẳng định rằng các Ngài thực sự là những bậc **Khīṇāsava** (Bậc lậu tận) – những vị A-la-hán chân chính không hề nghi ngờ.

## TRANG 252

# NGÀI PINNÈ-KWIN SAYADAW U KALYĀṆA (1188 - 1270)

Khi Ngài Pinnè-kwin Sayadaw U Kalyāṇa cùng vị Sayadaw đời thứ hai và thứ ba viên tịch, kim thân của cả ba vị đều không bị hư nát hay phát mùi, mà vẫn giữ nguyên vẹn cho đến tận ngày nay.

Tiểu sử của vị Sayadaw đời thứ nhất, Ngài U Kalyāṇa, đã được một người tên là Maung Kyaw Din biên soạn cách đây khoảng 80 năm. Do được viết theo lối văn vần biền ngẫu nên một số ý nghĩa còn chưa được rõ ràng. Trên bìa sách có in hình của vị Sayadaw đời thứ hai là Ngài U Vāyama. Cuốn sách chỉ vỏn vẹn 18 trang. Các vị hộ độ chùa (kyaung daka) được nhắc đến là Bo Pan Ya và U Par.

Ngài sinh vào thứ Hai, ngày 13 tháng Hai (tháng Wazo thứ hai) năm 1188 tại thị trấn Shwedaung, là con của bà Daw Rit, tên thuở nhỏ là Maung Chein. Sau khi thông thạo các kinh điển pháp học, Ngài từ Shwedaung đến lưu trú tại làng Pinnè-kwin. Ngài cũng đã đón mẹ già về để tận hiếu phụng dưỡng.

Pinnè-kwin thuộc huyện Okepho (Ingapu), nằm gần dãy núi Arkan (Phía Tây), thuộc cụm sáu làng Kwin-kauk. Sau khi trú tại chùa làng được 7 hạ, đến hạ thứ 12, Ngài bắt đầu du phương hành đạo tại 15 trú xứ rừng núi (dhutaṅga) trên dãy núi phía Tây, bao gồm các đỉnh núi cao nhất như núi Thit-say, núi Kabyo (Kan-pyo), núi Yan-kin, núi Kywema-thanar, núi Ko-kwe, núi Ko-maung, núi Sai, v.v. Tại mỗi nơi trong số 15 trú xứ này, Ngài đều cho xây dựng các bảo tháp kỷ niệm.

## Thần lực của Pháp và những chuyện kỳ diệu

Vì Ngài lưu trú tại những vùng núi rừng hẻo lánh, xa dấu chân người, nên đã nhiều lần phải đối mặt với các loài thú dữ như voi rừng, hổ dữ, những loài đại xà có thể quấn chết cả trâu bò, cũng như nhiều hạng phi nhân như Thiên nhân đọa lạc (Vemānika Peta), ngạ quỷ (Peta). Những cuộc chạm trán này đều được ghi chép tỉ mỉ từng sự kiện một theo lối thơ vần trong bản tiểu sử.

Đây là minh chứng hùng hồn cho thấy oai lực của lòng Từ (Mettā) còn đáng tin cậy và mạnh mẽ hơn cả những thần thông biến hóa như độn thổ hay phi hành.

Những chuyện kỳ đặc được nghe kể lại qua lời của ông U Ohn Myint (con trai của ông U Lu Hla – người từng được diện kiến Ngài) cũng nhiều vô số kể.