## TRANG 265

Bà mẫu thân Daw Cho, trong thời gian mang thai bậc hữu học (Bodhisatta), đã phát khởi ước muốn được gìn giữ giới hạnh (Sīla) mỗi ngày và chỉ muốn dùng các loại thực phẩm thuần chay. Bà đã thực hành đúng như những gì mình mong muốn. Đúng như câu nói: "Cái gai sắc nhọn ngay từ khi mới nhú", bậc hữu học ngay từ thuở nhỏ đã biết giữ gìn oai nghi tề chỉnh, biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. Cậu bé không hề kén chọn thức ăn, nếu có món gì ngon đều biết chia sẻ cho bè bạn. Ai xin món gì, cậu cũng rộng rãi cho đi mà không hề giấu giếm. Cậu chưa từng mắng nhiếc hay đánh đập ai, và thường thích chơi trò làm tu sĩ. Đối với bạn bè, cậu luôn có lòng nhẫn nhịn bao dung.

Năm 10 tuổi, cậu đến học tại chùa của ngài U Hmu ở làng Kaw Pyin, gần bảo tháp Kyaik Dayya, phía tây bắc Pegu (Bago). Đến năm 12 tuổi, cậu được xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Sīlasāra**. Vào tháng Tabodwe năm 1213 (theo lịch Myanmar), tại giới đàn (Sīmā) trên đồi tháp Kyaik Dayyone, làng Tanga, cậu đã thọ đại giới Tỳ-kheo với ngài trụ trì làng Pila Khat làm Thầy tế độ (Upajjhāya). Sau hai hạ lạp, ngài đến cầu học Pháp học (Pariyatti) tại trú xứ của ngài Bhone Gyi Pone (pháp danh **U Candālaṅkāra**) và ở đó cho đến khi được năm hạ. Chùa của ngài Bhone Gyi Pone khi ấy là một tu viện lớn với nhiều dãy liêu cốc bao quanh, tọa lạc tại góc đông bắc gần chợ lớn Pegu ngày nay, thường được gọi là chùa Htaung Kyaung. Ngay từ thời đó, ngài đã nổi tiếng là bậc khéo thuyết giảng và có lập trường kiên định.

Năm 1218, khi được năm hạ, ngài đến học tại chùa của ngài U Medhāvī tại vùng Puzundaung Taung Lon Pyan, Yangon (nay là tu viện Kyaikhtiyo). Sau một mùa an cư, ngài trở về Pegu và học thêm một năm với ngài U Vaṇṇa tại chùa rừng Kalyāṇī, vị vốn là người cùng làng. (Thời bấy giờ, các khu vực như Kalyāṇī, Hinghakone vẫn còn là nơi hoang vu, có voi hổ ẩn náu. Ngay cả tượng Phật nằm Shwethalyoung khi ấy cũng bị đất vùi lấp thành một gò cao, đến mức xe bò có thể đi ngang qua bên trên. Mãi đến năm 1243 mới được khai quật và tôn trí lại).

Năm 1220, khi được bảy hạ, ngài cùng hai vị pháp lữ đến học tại tu viện Ye Ngon, Ariyavaṃsa trên dặm đồi Sagaing trong một mùa an cư. Sau đó, ngài lại đến học tại tu viện Salin ở ngoại ô phía đông Mandalay thêm một năm nữa. Như vậy, bậc Trưởng lão đã dành trọn thời gian từ hạ thứ tám đến hạ thứ chín để chuyên tâm nghiên cứu Pháp học (Pariyatti), trước khi chính thức bước vào con đường tu hạnh đầu đà (Dhutanga) nơi rừng sâu. Dù cư ngụ tại bất cứ núi rừng nào, ngài vẫn song song thiết lập các trường Phật học lớn để hộ trì giáo pháp (Sāsana). Riêng phần mình, ngài nguyện trọn đời là bậc tu sĩ ẩn dật nơi rừng núi (Araññavāsī), một hành giả (Yogī) tiêu dao chốn lâm tuyền.

## TRANG 266

### Thọ hạnh nghĩa địa và dấn thân vào rừng sâu

Năm 1222, khi được chín hạ, phần vì lao lực do nghiên cứu kinh điển, phần vì quả báo từ ba-la-mật (Pāramī) quá khứ thúc giục, sức khỏe ngài suy giảm nên phải quay về quê nhà. Khi sức khỏe dần bình phục, ngài lần lượt chuyển đến trú ngụ tại làng La Ka Mut phía tây Pegu, làng Nyaung Pin phía nam chợ, và làng Kone Tan ở Kyaik Patine. Những nơi ngài dừng chân không phải là chùa chiền, mà chính là các bãi tha ma (nghĩa địa) của các làng đó. Vì những nơi này chưa đủ sự tĩnh lặng để gọi là tu viện rừng, nên ngài thường chọn những khu rừng cách xa làng mạc khoảng năm phà-lông (tương đương 500 tầm) để tịnh tu.

Các vị pháp lữ cùng học ngày trước là ngài U Vaṇṇa (ở Kalyāṇī) và ngài U Sumana (người làng Nyaung Pin) cũng lần lượt vào rừng Kalyāṇī và vùng Shwe Natha phía đông để tu tập. Ngài U Ācara, vị đồng hành từ Mandalay về, cũng cùng ngài U Vaṇṇa vào rừng, sau đó chuyển đến vùng Krakhat Waing.

Bậc Trưởng lão và ngài U Vaṇṇa khi ấy đã cùng nhau khích lệ ngài Bhone Gyi Pone – vị giáo thọ trưởng của tu viện Htaung Kyaung, một bậc có uy tín lớn và đông đảo đệ tử – cùng dấn thân vào con đường tu rừng. Ngài Bhone Gyi Pone vốn là bậc có sẵn đức tin và lòng tinh tấn (Saddhā-Viriya), lại là bậc thầy cũ của các ngài. Thời bấy giờ, các vị tu sĩ trẻ tu rừng không khỏi đau lòng khi thấy một số vị Tăng sĩ mải mê chạy theo những việc phi pháp như nuôi bò, nuôi xe, xem bói, chữa bệnh, tích trữ tiền bạc – những lối sống không như pháp, tà mạng và làm hỏng đức tin của cư sĩ (**Anesana, Micchājīva, Kuladūsana**). Với ý định cải thiện tình trạng này từ "ngọn đầu đàn", các ngài đã từng bước thuyết phục và dẫn dắt vị thầy của mình. Ngài Bhone Gyi Pone dần nhận ra những thói quen xấu của hàng Tỳ-kheo cư ngụ tại thôn làng (Gāmavāsī), thấy rõ sự dẫn dắt nguy hại của lưới ái dục, và hiện trạng những người không có giới hạnh (Alajjī, Dussīla) ngày càng đông đảo do chỉ biết bắt chước những thói hư tật xấu của nhau.

Ngài tự suy xét: "Ta cai quản đông đảo tăng chúng, làm vị đứng đầu giáo khu, nhưng nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì chưa đủ. Đó chỉ mới là chút công đức tầm thường, chức vị giáo thọ trưởng chưa thể đảm bảo an toàn trước hiểm họa của các cõi khổ (Apāya)". Từ đó, tâm nguyện xuất thế của ngài ngày một lớn mạnh.

### Trả ơn thầy bằng cách thiêu hủy đồ vật phi pháp

Trong thời gian đó, Trưởng lão U Sīla cũng dùng nhiều phương cách để dẫn dắt vị thầy cũ của mình mà không làm tổn thương lòng tôn kính. Một ngày nọ, ngài khoác y mang bát từ trong rừng tìm đến tu viện của ngài Bhone Gyi Pone.

## TRANG 267

Ngài nhớ lại thuở còn nhỏ, khi chưa am tường luật tạng (Vinaya) và còn ở với ngài Bhone Gyi Pone đến hạ thứ năm, mỗi khi thầy có Phật sự cần đi xa, chính ngài thường là người đánh xe bò. Nhờ bản tính cẩn thận, làm việc gì cũng chu đáo khiến người lớn an tâm, ngài thường được thầy khen ngợi: "Vị Tỳ-kheo trẻ này đánh xe bò vừa nhanh lại vừa giúp sức cho bò được thảnh thơi". Vì thế, hễ có việc đi xa là ngài **U Sīla** lại được giao nhiệm vụ đánh xe. Nhưng chính những thói quen đó đã thôi thúc ngài **U Sīla**, sau khi đã tinh thông luật tạng, quyết định rời khỏi tu viện Htaung Kyaung. Vừa đi vừa hồi tưởng những chuyện cũ, ngài đã đến tu viện của ngài Bhone Gyi Pone. Tuy nhiên, ngài không bước vào trong viện mà dừng chân tại một nhà nghỉ (Zayat) bên ngoài. Ngài trải tấm da ngồi, vừa tu tập các đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna) như tâm từ (Mettā), vừa suy xét cách để thưa chuyện với thầy. Ngài ở đó suốt hai ngày với quyết tâm rằng: "Nếu một vị Tỳ-kheo không có giới hạnh có thể làm hư hỏng hàng ngàn người khác, thì một vị Tỳ-kheo có giới hạnh cũng phải có khả năng dẫn dắt hàng ngàn người trở nên tốt đẹp".

Việc ngài không vào trong tu viện là vì hầu hết các ngôi chùa đó thường có những phần xây dựng liên quan đến việc Tăng sĩ trực tiếp điều hành hoặc chỉ đạo làm những việc không phù hợp với giới luật (Payoga). Những vị Tỳ-kheo tôn trọng luật tạng thường không lưu trú tại những ngôi chùa như vậy, thậm chí không đảnh lễ các ngôi tháp nếu chúng được xây dựng phi pháp. Những ngôi chùa, tự viện không đúng pháp thì dù là bậc tu hành cũng không nên thọ dụng, vì hễ chạm vào là phạm tội (Āpatti). Những người thí chủ thiếu trí tuệ khi cúng dường những nơi như vậy cũng bị tổn giảm phước báu. Những người không hiểu rõ lý lẽ này thường lầm tưởng rằng các ngài đang "làm cao" hoặc quá khắt khe.

Biết ngài U Sīla đang ở nhà nghỉ, ngài Bhone Gyi Pone đích thân đi ra gặp.

"Này đại đức, tại sao về đến đây mà không lên chùa lại ở chỗ này? Ông thấy tôi có lỗi lầm gì sao?" Ngài Bhone Gyi Pone hỏi.

"Bạch thầy, thầy là bậc ân sư vĩ đại của con. Nhờ ơn thầy mà con mới thông suốt các kinh điển luật tạng. Vì thấy có những điều chưa phù hợp với luật tạng nên con muốn báo đáp ân đức của thầy, hiện con đang chờ đợi cơ hội thích hợp để trình thưa." Ngài U Sīla bạch lại. Nghe vậy, ngài Bhone Gyi Pone không những không giận mà còn tỏ lòng hoan hỷ. Ngài phán rằng: "Này đại đức, tôi có rất nhiều đệ tử nhưng tôi chỉ tin cậy mỗi ông. Nếu có điều gì không đúng, xin hãy sửa chữa giúp tôi, đừng bỏ mặc tôi. Tôi cho ông toàn quyền quyết định mọi việc."

Được lời như cởi tấm lòng, ngài U Sīla bạch: "Nếu thầy đã cho phép, xin thầy cho con được dọn dẹp tất cả những thứ không phù hợp với đời sống tu hành, từ xe cộ đến thuyền bè".

Vì người thầy đã hoàn toàn đồng ý, ngài đã thu gom toàn bộ những đồ vật không hợp đạo hạnh đó.
