## TRANG 277

### Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt

Ngài đã dùng chính bản thân mình để minh chứng cho điều đó.

Tôi chợt nhớ đến câu chuyện về hai mẹ con nữ Ngạ quỷ (Peta) vào thời Đức Phật. Một nữ Ngạ quỷ nọ, tay bế con gái nhỏ tên là **Uttara**, tay dắt con trai lớn tên là **Punabbasu**, đi lang thang quanh chùa Jetavana (Kỳ Viên) để tìm thức ăn thừa, đờm dãi hay chất nhầy để ăn qua bữa. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang thuyết Pháp cho các vị Tỳ-kheo. Nữ Ngạ quỷ trông thấy đám đông các vị Tỳ-kheo, ngỡ rằng đang có buổi phân phát thức ăn nên đi đến gần. Vì giọng của các vị Phật thường không vang ra ngoài phạm vi hội chúng, nên bà không nghĩ đó là một buổi thuyết Pháp. Chỉ khi đến thật gần, bà mới nhận ra Ngài đang thuyết Pháp.

Nhờ có thiện duyên Ba-la-mật từ trước, tiếng Pháp của Đức Phật đã cuốn hút bà mãnh liệt. Bà dỗ dành các con: "Này các con, hãy giữ im lặng nhé. Mẹ con mình nghe được những lời này là đã muộn màng lắm rồi đó con. Ở đời này, chồng và con là những người thương yêu nhất, nhưng Giáo Pháp còn đáng yêu hơn cả những người thân yêu nhất thế gian kia. Hãy giữ im lặng nào."

"Vâng thưa mẹ, con cũng thấy nghe rất hay. Con không làm ồn đâu, em gái cũng không nghịch ngợm, em đang ngồi yên đây mẹ. Mẹ hãy cố gắng ghi nhớ lời dạy nhé," người con trai lớn **Punabbasu** cũng lên tiếng khích lệ. Cả mấy mẹ con đều đã bị "giăng bẫy" bởi lưới Pháp.

Khi buổi thuyết Pháp kết thúc (vì đều là những bậc có trí tuệ bẩm sinh - Ti-het), hai mẹ con đã đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Riêng cô con gái nhỏ **Uttara** vì còn quá bé nên chưa hiểu hết ý nghĩa, tuy chưa đắc Pháp nhưng nhờ đó mà có được một lâu đài (vimāna) ngay tại chùa Jetavana để thường xuyên được đảnh lễ Đức Phật. (**Saṃyutta Nikāya, Sagāthāvagga, Punabbasu Sutta**).

Cũng như các nhà chú giải đã dùng những câu chuyện về các bậc Thánh thời Tích Lan để minh chứng cho giáo huấn của Đức Phật, những sự việc xảy ra với Ngài cũng góp phần củng cố niềm tin vào những lời dạy vốn khó tin của Đức Thế Tôn.

### Hãy Cùng Rút Ra Bài Học

Vùng Myoung Taung ở Kyaikto vốn nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Vì thường xuyên nghe thấy tiếng gõ mõ vang lên nên người dân còn gọi là núi Mõ (Myoung Tee Taung). Không ai dám ở, cũng không ai dám bén mảng tới.

Tuy nhiên, chính vì rừng rậm không người qua lại nên nơi đây lại vô cùng thanh tịnh, yên tĩnh. Đây trở thành nơi lý tưởng cho Ngài **U Sīla**. Tại ngọn núi này, Ngài không hề gặp phải bất kỳ hiểm nguy hay chướng ngại nào.

Chuyện kể rằng, khi Trưởng lão **Visākha** từ thành Pāṭaliputra đến tu tập tại núi Cittalapata ở đảo Tích Lan, theo thông lệ cứ mỗi bốn tháng

## TRANG 278

lại di chuyển đến một nơi ở mới. Khi tròn bốn tháng tại núi Cittalapata, ngài có ý định rời đi thì trong lúc đang nằm nghỉ:

"Bạch Ngài, nếu Ngài rời đi, giữa chúng con sẽ nảy sinh bất hòa, tranh chấp và oán ghét lẫn nhau. Xin Ngài đừng đi," một vị Thần cây (Rukkhaso) đã khóc lóc van xin, nhờ đó ngài đã ở lại cho đến khi nhập Diệt độ, như được chép trong "**Thanh Tịnh Đạo**" (Visuddhimagga). Nơi ở của những bậc thiện tri thức chắc chắn sẽ mang lại sự an lạc.

Người được chư Thiên yêu mến sẽ luôn gặp những điều tốt lành.

(**Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passati. - Mahāvagga**).

Tu tập Tâm Từ (Mettā) được gọi là pháp thiền định dễ đạt định lực. Đó cũng được gọi là liều thuốc yêu mến dành cho muôn loài, và cũng là mật ngôn bảo vệ (Paritta) khỏi những hiểm nguy.

Trong chú giải "**Kinh Tập**" (Suttanipāta Aṭṭhakathā) có ghi lại rằng, những vị thần rừng vốn hay hăm dọa và hãm hại các bậc tu hành trong rừng khi chưa tu tập tâm từ, nhưng khi các vị Tỳ-kheo tỏa lòng từ bi, các vị thần ấy lại quay sang phục vụ như quét dọn, thu xếp chỗ ngồi, bóp chân, đun nước nóng... Cần lưu ý rằng không có pháp hành thiền nào khác được thuyết giảng có công năng và lợi ích vi diệu như Tâm Từ này. Mọi người nên dùng mắt tuệ để nhìn nhận và học tập theo oai lực của Ngài **U Sīla**.

### Mưu Chước Của Ma Vương, Kẻ Thiếu Hiểu Biết Gây Họa

Trong thời gian ngài trú tại tịnh xá Tat Kalay, làng Kali, phía bắc Bago, có những vị hộ tăng (kappiya) đi theo để phục vụ các công việc lớn nhỏ. Trong đó, ông hộ tăng **U Kyar Phyu** là người có tính khí nóng nảy, hấp tấp. Một đêm nọ, khi Ngài đang ngồi thiền tĩnh lặng dưới gốc cây, **U Kyar Phyu** tưởng đó là một người bạn hộ tăng khác, anh ta gọi nhưng không thấy trả lời nên đã dùng nắm đấm đánh vào đầu. Thấy người đó không động đậy, anh ta sờ thử thì chạm phải nút thắt dây lưng (khāpān), nhận ra đó là Ngài nên định bỏ chạy. Những người bạn đi cùng bảo:

"Dù có chạy thì tội cũng không hết đâu ông hộ tăng ơi, hãy vào đảnh lễ sám hối với Ngài đi." Anh ta bèn vào đảnh lễ. Sau đó, vì phát tâm đại tàm quý, **U Kyar Phyu** đã phát nguyện xuất gia.

Vào khoảng năm 1262 (Miến lịch), trong một lần Ngài cùng ba vị Tỳ-kheo đệ tử đi bộ thực hiện công việc trên đường Kandawgyi ở Yangon. Vì đường vắng, một chiếc xe ngựa chạy rất ẩu lao tới, sợ bị va chạm nên chính Ngài đã phải lánh sang bên nhường đường. Khi chiếc xe ấy vừa đi qua khoảng hai độ dài cây sào thì bỗng nghe tiếng "rầm"

## TRANG 279

### Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt

nghe thấy tiếng động, mọi người ngoảnh lại thì thấy chiếc xe đã bị lật nhào, người đánh xe người Ấn Độ nằm lăn lóc dưới đất.

Hồi Ngài còn ở tịnh xá Taik Kular, núi Kelāsa, có vài vị sư trong làng vì lòng đố kỵ, tị hiềm đã thuê một kẻ say rượu hãm hại Ngài. Kẻ say rượu đó đã đứng đón đầu trên đường Ngài đi khất thực, rồi dùng đầu lao mạnh vào húc Ngài. Chính nhờ lòng từ và giới đức của Ngài mà mặt đất đã thay Ngài gánh chịu cú húc đó. Kẻ say rượu vì lao quá mạnh nên đã ngã lăn ra ngay tại chỗ.

Ở một vùng phía Đông, có một vị sư nọ vì ra lệnh cấm dân làng: "Không được dâng sới cho Ngài," nên sau đó vị sư này đã mắc một căn bệnh kỳ lạ, hễ cứ nhìn thấy mâm cơm là lại hét lên sợ hãi, rồi qua đời vì căn bệnh đó.

Đúng như những gì được thuyết trong "**Kinh Ma Hăm Dọa**" (Māratajjanīya Sutta) thuộc Trung Bộ Kinh, việc bị Ma vương nhập vào mà không hay biết, rồi đi đối đầu với những bậc hiền thiện là một điều vô cùng đau đớn và đáng sợ.

Trong phần giải thích kinh này về **Māra** (Ma vương) có những điều rất đáng ghi nhớ. **Māra** không chỉ nhập vào người mà còn có thể tạo ra những ảo giác về hình ảnh và âm thanh sai lệch giữa hành giả và kẻ thù.

Ví dụ, Ma vương có thể tạo ra hình ảnh mập mờ như có một người phụ nữ bên cạnh vị Tỳ-kheo đang ngồi thiền, hay làm như vị đó đang làm điều gì bất chính dù thực chất họ đang quán chiếu đề mục. Khi đó, những kẻ thiếu trí sẽ tin vào những mưu chước mà mình tận mắt chứng kiến, dẫn đến việc đối đầu với hành giả và phải chịu cảnh đọa địa ngục. Để tránh điều này, chính các bậc hành giả cũng cần phải thấu hiểu và thận trọng trước những hiện tượng đó.

Vào khoảng năm 1255, khi Ngài đến Thaton, Ngài đã không có cơm ăn suốt ba ngày. Do sự kích động của một số vị sư địa phương rằng: "Kẻ từ rừng vào sẽ mang họa cho làng," các bậc kỳ lão trong làng đã ra lệnh: "Ai dâng sới cho Ngài sẽ bị phạt năm kyat." Suốt ba ngày, vì sợ các vị sư và các kỳ lão nên không ai dám dâng sới.

Sáng hôm sau, ông **Ko Wine**, một chủ vườn, khi đi làm về đã bảo vợ: "Này bà nó, tôi vừa gặp Ngài dưới gốc cây trong vườn mình. Trông Ngài thật thanh tịnh và đáng kính làm sao. Nghe nói Ngài đã nhịn đói ba ngày rồi, chắc là thật đấy. Tôi thấy Ngài ra con suối cạnh vườn, dùng túi lọc nước lấy nước vào bát rồi uống. Ngày mai nhà mình hãy dâng sới cho Ngài đi, dù có bị phạt năm kyat cũng cam lòng." Thế là họ đã dâng sới. Một số người khác cũng lén lút dâng sới sau bụi rậm. Chẳng mấy chốc, cả thành phố xôn xao...