## TRANG 280

Người dân nô nức cúng dường thực phẩm cơm nước với số lượng lớn đến mức phải dùng cả xe bò để vận chuyển.

Theo sự khuyến tấn của Ngài Trưởng lão, họ cũng đã thành lập một học viện tăng sinh (Sār saṅ' tuik') gọi là Dhammikārāma. Khi số lượng tăng chúng lên đến khoảng ba bốn mươi vị, do có những kẻ xúi giục việc không cúng dường vật thực nên chư Tăng đã có một thời kỳ gặp khó khăn về khất thực. Nhưng hiện nay nơi đây đã trở nên đông đúc và phát triển. Tại khu vườn của ông U Waing, vào khoảng năm 1260 (Miến lịch), ông U Baleik và bà Daw Phwa Sone đã mua lại khu vườn và xây dựng ngôi chùa cúng dường đến **Ngài U Zānuttara**. Đó chính là chùa Taung Waing Gyi Taw Ya.

### Đạn không nổ, máy ngừng chạy, sức mạnh ấy từ đâu?

Có một lần, khi Ngài Trưởng lão đang ngồi thiền định yên lặng trong bụi rậm tại Kyaik De Yan, một thợ săn tên là U Kaw từ làng Shwe Hlay vì lầm tưởng Ngài là một con thú nên đã dùng súng bắn. Ông nổ súng ba lần nhưng lửa không bắt (đạn không nổ). Sau đó, ông chĩa súng lên trời bắn thử thì đạn lại nổ phát ra như thường. Ông tự hỏi: “Tại sao con thú trong bụi rậm nghe tiếng súng mà không chạy?” nên đã tiến lại gần xem xét. Khi thấy đó là một vị Trưởng lão, ông vô cùng kinh hãi, run rẩy và xin lỗi Ngài.

Ngài phán rằng: “Người biết nhận lỗi và sám hối là tốt. Đó là nhân duyên cho sự tiến hóa về sau. Ta khước từ sự sân hận (ta kham - nhẫn nhục/tha thứ)”. Những lời này khiến ông U Kaw cảm thấy hân hoan như vừa được tưới nước tiên. Ông thưa: “Kể từ nay cho đến trọn đời, con xin tránh xa điều ác này”, rồi trở về nhà. Không lâu sau đó ông đi tu làm đạo sĩ (rathaid - hermit), về sau cũng xuất gia tì-khưu giống như Ngài Trưởng lão, hành trì các pháp đầu đà (dhutaṅ') và trú ngụ nơi rừng núi. Năm 1263, ông đã vào an cư tại khu rừng Kyauk Ta Lone dưới chân núi Taik Kula.

Năm 1244 (thời kỳ sụp đổ vương triều), các vị sư như Myan Chaung Pongyi ở Sittoung, Kyauk Kalat Pongyi đã lãnh đạo quân đội khởi nghĩa chống lại chính quyền Anh. Trong cuộc tấn công chiếm Shwe Kyin, do sự thiện chiến của quân đội Punjabi, vị chỉ huy dũng cảm Ko Bar Gyi đã tử trận và quân đội phải tan rã rút chạy. Quân đội Punjabi đuổi theo truy quét.

Một ngày nọ, trong khi Ngài Trưởng lão đang thiền định trong một khu rừng, lính Punjabi cho rằng Ngài là người bên phe đối phương nên đã bao vây và nổ súng từ bốn phía. Súng không phát hỏa, họ nhận ra đây là một vị tu sĩ nên đã tiến đến xin lỗi và đảnh lễ. Họ áp sát đầu vào chân Ngài và làm lễ chào (salaam).

Năm 1262, vào tháng Tazaungmon, trong kỳ thi giáo lý (Sā pran' pvai) tại rừng Nyaung Lay Pin và việc kiết giới Sima tại làng của người Shan, Ngài đã đi chu du qua các làng Pyuntaza, Daiku, Okkan. Trên đường đi, khi gặp một đoàn tàu hỏa chạy tới, đoàn tàu đột ngột dừng lại khiến mọi người xôn xao. Viên quản lý máy tàu và hành khách cũng đua nhau đến cúng dường Ngài Trưởng lão.

## TRANG 281

Ngay cả khi tàu đã rời đi, họ vẫn thò người ra cửa sổ, cúi đầu, gọi to để cung kính đảnh lễ. Một sự việc tương tự cũng đã từng xảy ra khi Ngài đi từ Thingangyun sang phía Dala và Kun Chan Kone.

Vào khoảng năm 1244, khi Ngài đang trú tại chùa rừng Seik Kalay ở Shwe Kyin, Ngài phải đi khất thực tại làng Wan Ahnhim. Một ngày nọ, trong khi đi khất thực, chân Ngài bị vướng vào bẫy chim thú, Ngài liền đứng yên tại chỗ không bước tới trước. Người đặt bẫy nhìn thấy thì lo sợ không dám lại gần, cứ lẩn quẩn theo dõi từ xa. Ngài Trưởng lão vẫn đứng yên như thế. Người thợ săn vô cùng lo lắng, không dám lại gần để gỡ bẫy. Sau một lúc lâu, anh ta phải nhờ một người khác gỡ giúp. Ngài Trưởng lão hỏi người mới đến:

“Này thí chủ, đây có phải là bẫy của ông không?” 

Người đó trả lời: “Thưa không phải ạ”.

Ngài phán: “Đừng tự tiện gỡ bẫy của người khác”.

Bản thân Ngài theo giới luật (Vinaya) cũng không được phép tự gỡ, và Ngài cũng không cho phép người không liên quan gỡ. Thế rồi người kia quay sang bảo chủ nhân cái bẫy:

“Anh thật là rắc rối, sắp quá ngọ rồi, nếu vị sư này không được thọ thực mà qua đời thì anh sẽ phải đọa địa ngục Avici (A-tì)”. Nghe vậy, người chủ bẫy buồn bã khóc lóc chạy đến gỡ bẫy. Anh ta thưa: “Từ nay về sau con sẽ không làm như vậy nữa, xin Ngài từ bi tha thứ”, rồi đem cái bẫy đó cúng dường cho Ngài và đảnh lễ xin lỗi. Ngày hôm đó, Ngài Trưởng lão đã bị quá giờ ngọ và lỡ mất một bữa thực.

Chư Phật và các bậc thánh nhân, trong những trường hợp bị Mara (Ma Vương) quấy phá làm cho lỡ bữa thực, thường vẫn giữ tâm hân hoan như các vị Phạm thiên thọ hưởng **Pīti-bhakkha** (hỷ thực) – nuôi dưỡng thân tâm bằng hỷ lạc của giáo pháp.

[ Theo giới luật (Vinaya), nếu gỡ bẫy khiến con thú bị sập bẫy thóat ra thì phải bồi thường giá trị con thú (bhaṇḍā-sāra). Nếu gỡ ra rồi lại đặt lại thì không thoát khỏi tội sát sinh (pāṇātipāta). ]

### Tố chất không thể tử vong (Amata-dhātu)

Dù Ngài Trưởng lão đã nhiều lần đối mặt với những nguy hiểm cận kề cái chết như đoàn tàu hỏa, súng đạn, hay thú dữ, nhưng mạng sống vẫn không hề hấn gì. Giống như các bậc thánh giả trong quá khứ như **Udaya Sāmaṇera** (Sa-di Uttara) từng bị ném lên giàn hỏa thiêu, **Thoerubbha** (Ngài Dabba) ở trong bụng mẹ khi thi hài bị đốt, hay **Thoerabākula** (Ngài Bākula) ở trong bụng cá; những người chắc chắn sẽ đắc pháp cao thượng trong đời này thì không có lệ tử vong bất đắc kỳ tử. Điều này được gọi là **Ñāṇavipphāra-iddhi** (Tuệ biến mãn thần thông). Những người có phước nghiệp đặc biệt trong quá khứ, hay những chúng sinh mang trong mình tố chất không chết (Amataa) thì sẽ không chết trước khi hoàn thành đạo quả.

## TRANG 282

Cần lưu ý rằng lực thu hút của yếu tố bất tử vô vi (Asaṅkhata Amata-dhātā) – tức là Niết-bàn – vĩ đại đến nhường nào.

### Sự thất bại của kẻ đối đầu với bậc có đại quyền năng

Về những kẻ vì lòng đố kỵ, ích kỷ mà chống đối Ngài Trưởng lão, có những điều rất đáng ghi nhớ. Đối đầu làm kẻ thù với bậc cao thượng hơn mình là điều vô cùng đáng sợ. Bậc ấy càng có đức hạnh cao dày, càng có lòng nhẫn nhục bao nhiêu thì kẻ chống đối càng bị nhấn chìm và tổn thương bấy nhiêu. Những hạt bụi tung vào gió ngược sẽ chỉ bay ngược lại trú vào mũi, miệng, mắt của chính người ném. Họ có thể gặp phải nhiều loại suy vong như chịu sự đau đớn (Thập hình phạt - Daṇḍa 10 pā). Ở đời gọi đó là “bị trừng phạt bởi nước ngâm” (ciim re saṅ' - quả báo nhãn tiền). Trong bài kinh **Upāli-sutta thuộc Majjhima Pannāsa** (Trung Bộ Kinh), khi nói về sức mạnh của ý nghiệp, có dẫn chứng về việc người dân xúc phạm **đạo sĩ Kisavaccha** khiến cho vương quốc Daṇḍakī bị mưa vũ khí, mưa tro nóng bao phủ và trở thành rừng rậm hoang vu.

Trong câu chuyện về vị Thiên tử Dhamma ở chương **Ekādasanipāta**, Thiên tử Dhamma cùng tùy tùng bay nhiễu quanh Diêm-phù-đề theo chiều bên phải để khuyến tấn loài người làm việc thiện. Thiên tử Adhamma cũng làm tương tự nhưng bay theo chiều bên trái để khuyến khích điều ác. Khi hai cỗ xe gặp nhau trên không trung, cả hai đã tranh cãi xem ai phải nhường đường cho ai. Cuối cùng, Thiên tử Dhamma đã nhẫn nhục nhường đường trước, thế nhưng khi cỗ xe của Ngài vừa tránh ra thì Thiên tử Adhamma liền rơi khỏi xe và đọa ngay xuống địa Ngục Avici. Sức mạnh của lòng nhẫn nhục vô hình (**Adhivāsana-khanti**) thật là vĩ đại thay!

Một lần nọ, có một người Bà-la-môn nổi giận với Đức Thế Tôn vì cho rằng Ngài đã độ cho anh trai mình xuất gia, ông ta đã đến chửi rủa và đe dọa Ngài. Tên ông là **Akkosaka Bhāradvāja**. Khi đó Đức Thế Tôn hỏi:

“Này Bà-la-môn, ví như có khách đến nhà ông, ông bày biện đồ ăn thức uống tiếp đãi, nếu người khách không ăn, không nhận thì những thứ đó thuộc về ai?”

Ông trả lời: “Thì vẫn thuộc về gia đình chúng tôi thôi”.

“Này Bà-la-môn, cũng vậy, nay Ta không chấp nhận những lời chửi rủa đe dọa của ông. Những thứ đó hãy còn lại với chính ông thôi”. 

Nghe vậy, ông ta lầm tưởng Đức Thế Tôn đang nguyền rủa mình nên vô cùng hoảng sợ. Vì **Bhāradvāja** vốn biết những vị có thần lực thế gian thường dùng mật chú, thiền định hoặc lời nguyền (jhai t' chā) để khiến kẻ khác gặp họa, nên ông ta mới kinh sợ như vậy. Sau đó, ông nhận lỗi và xin xuất gia. (**Saṅ'gāthāvagga, Akkosaka-sutta**).