## TRANG 286

Khi được hỏi, **U Hman** thưa rằng:

“Con cũng không biết Ngài là bậc cao tăng, nhưng đêm qua con nằm mộng thấy có tiếng bảo hãy đi đặt bát ở đó, sẽ có một vị Alahan ngự đến. Dù giấc mộng có đúng hay sai thì việc đặt bát cúng dường cũng tạo nên công đức, vì vậy mà con đã đến đây, thưa Ngài.” 

Ngài Thiền sư nghe vậy càng thêm kinh ngạc. Khi hỏi những người khác, Ngài được biết họ cũng như **U Hman**, hoặc là nằm mộng thấy, hoặc nghe hàng xóm kể lại mà cứ thế đi đến dù chẳng hề biết rõ sự tình. Đám đông tụ tập đông đúc như một lễ đặt bát lớn. Vị trụ trì chùa ấy chính là **Ngài Thiền sư Shwe Aung Yo**.

Sau này, Ngài Thiền sư trụ trì ấy sinh lòng hối hận sâu sắc vì những hiểu lầm trước đây. Mỗi khi thuyết pháp hay giảng dạy cho chư Tăng, Ngài thường nhắc lại chuyện này như một bài học. Không lâu sau đó, Ngài cũng phát nguyện vào rừng tu tập.

Đối với những bậc thánh nhân đức hạnh như Ngài Thiền sư, việc thấu suốt mọi chuyện trong thế gian như nhìn lòng bàn tay là điều không đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, đừng lầm tưởng rằng hễ biết điều gì là các Ngài đều nói ra. Chỉ khi thấy rõ cơ duyên và lợi ích cho việc thúc liễm thân tâm của hàng đệ tử hậu học như trường hợp của **Ngài Thiền sư Shwe Aung Yo**, các Ngài mới thường hé lộ đôi chút để thức tỉnh.

### Thiền mục jaggery (Đường thốt nốt)

Khi Ngài Thiền sư trú tại am thất **Kyait Kwe Taung** trên đảo Bilu, có nhiều người đến đảnh lễ. Ngài bảo với **Ko Pho**, một người Ấn Độ từ làng Mayam:

“Thí chủ này đã 60 tuổi rồi mà còn lười giữ giới Bát quan, ngay cả nhà mình cũng chẳng buồn quét tước, đến khi nước dâng cao thì phải nhờ nước 'quét' giùm nhà cửa.” 

Mọi người đều kinh ngạc tự hỏi: “Làm sao Ngài biết được ông ấy xây nhà ở vùng trũng như thế?”

Dân làng Ywalut cũng thỉnh mời Ngài rời từ **Kyait Kwe Taung** sang trú tại **Kyait Doe Taung**. Khi vừa lên đến đỉnh núi, mọi người đều mệt lả và khát nước, nhưng xung quanh không thấy nguồn nước nào, mà họ cũng quên mang theo nước dự phòng. Lúc ấy Ngài bảo: “Các thí chủ hãy xuống dưới gốc cây kia mà lấy nước.” Mọi người làm theo và quả nhiên tìm thấy mạch nước suối. Họ lại một lần nữa sửng sốt: “Ngài chưa từng đến đây, sao lại biết rõ có nước ở đó?”

Việc này là do Ngài dùng thần lực tạo ra nước, hay là do Ngài có năng lực thấu thị nhìn xuyên suốt thấy được mạch nước có sẵn, điều đó thật khó định luận.

Câu chuyện mắt thấy tai nghe của vị Sa-di lớn tuổi **U Pandita** ở Kanyutkwin còn đáng kinh ngạc hơn nữa.

## TRANG 287

Khi Ngài cư ngụ tại núi **Maung Tee** ở Kyaikhto, **U Sanda** và đạo sĩ **U Pandi** (khi đó ông ấy vẫn còn là đạo sĩ) cùng theo hầu cận Ngài. Đạo sĩ vốn là người có tính hay lo xa, chuẩn bị mọi thứ chu đáo theo kiểu người xưa “cần là có ngay”. Một ngày nọ, khi ông đến hầu Ngài Thiền sư, Ngài liền hỏi:

“Này đạo sĩ, sao con lại đem đường thốt nốt cất giấu kỹ trên xà nhà như thế?”

Nghĩ rằng Ngài đã thấu suốt rồi thì có giấu cũng bằng thừa, đạo sĩ tiến tới bạch rằng:

“Bạch Ngài, con cất đó để khi cần là có dùng ngay ạ.”

“Ừ... khi con ngồi thiền, tâm con cứ lo lắng không biết chuột hay sóc có ăn mất túi đường của mình không, thế là việc hành thiền của con trở thành 'thiền đường thốt nốt' mất rồi. Đừng giữ nó nữa.”

Ngài vừa dứt lời, vị đạo sĩ chỉ biết cười trừ đầy kinh ngạc.

Một lần khác, **U Pandi** bị bệnh, ông định đi tìm **Thầy Thúy (Saya Htun)** ở làng Htap Kay để chữa trị, nhưng vì nể ngại Ngài Thiền sư nên không dám đi. Bệnh tình không thuyên giảm, cuối cùng ông quyết định phải đi. Khi ông vừa định đến đảnh lễ xin phép, Ngài đã nói đón đầu:

“Này đạo sĩ, con đừng có nể ngại ta làm gì. Ngày nào con muốn đi tìm Thầy Thúy ở làng Htap Kay thì cứ việc đi.”

Đạo sĩ **U Pandi** nghe vậy chỉ còn biết ngỡ ngàng quay về chuẩn bị khởi hành.

### Chỉ trọng tu tập, không giỏi kinh văn – Một sự hiểu lầm

Trong thời gian Ngài trú tại thiền lâm **Maha Thaung** phía trên đầm nước cạnh núi **Kyauk Lon Gyi** ở Shwegyin, một số thí chủ từ Pyinmana muốn đến đảnh lễ Ngài. Các ông **U Thar Htoo** và những người bạn ở Shwegyin đã dẫn đường. Họ tình cờ gặp Ngài trên đường đi khất thực về từ làng Kan Bay Ai. Các thí chủ cung kính nhận lấy bình bát và theo Ngài về am thất. Khi về đến nơi, Ngài đã ban lời giáo huấn cho họ như sau:

“Này các thí chủ, khi muốn xây dựng những cung điện, đền đài nguy nga tráng lệ và phức tạp, nếu chỉ có tài nghệ mà không có dụng cụ như đục, bào thì liệu có làm được không? Ngược lại nếu có đầy đủ dụng cụ mà không có kiến thức, tay nghề không tinh xảo thì có xây được không?”

“Bạch Ngài, không thể được ạ.”

“Đúng vậy, phải có cả dụng cụ lẫn tài nghệ tinh thông thì mới có thể thành tựu được đúng không?”

“Thưa vâng, đúng như vậy ạ.”

“Cũng như vậy, trong công trình của Giáo pháp, cả Đức tin (Saddha) và Trí tuệ (Panna) đều phải song hành mới có thể thực hiện được. Thiếu một trong hai đều không xong. Do đó, trong mọi Phật sự công đức, hãy cố gắng tu tập cho trọn vẹn cả Đức tin và Trí tuệ.”

## TRANG 288

Sau khi nghe pháp xong, các thí chủ đảnh lễ ra về. Trên đường đi, một vị thí chủ từ Pyinmana vừa mừng vừa tủi nói rằng:

“Không thể không tin Ngài Thiền sư là bậc Thánh đã đắc thần thông. Bài pháp Ngài vừa giảng chính là để răn dạy tôi đấy.”

Mọi người đều chú ý và hỏi thăm sự tình. Ông giải thích:

“Từ lúc đi theo sau Ngài, trong lòng tôi cứ mải suy nghĩ rằng: 'Chà... Ngài Thiền sư này tuy giới hạnh và sự tu tập (Patipatti) thật đầy đủ, nhưng về mặt kinh điển Pháp học (Pariyatti) thì có lẽ không mấy hiển đạt. Thật hiếm có bậc vẹn toàn cả đôi bề.' Tôi cứ suy nghĩ như thế suốt dọc đường, Ngài biết rõ tâm niệm ấy nên đã cố ý dùng ví dụ đó để răn dạy tôi.”

Ở điểm này, tôi xin phép trình bày đôi chút về việc thấu thị tâm tư người khác để chúng ta cùng lưu ý.

Việc biết được ý nghĩ của người khác gọi là “**Tha tâm thông**” (Paracittavijanana Abhinna). Tuy nhiên, không phải chỉ khi đắc thần thông này mới biết được. Nếu lực định (Samadhi) mạnh mẽ, người ta cũng có thể thấu cảm được ở mức độ nhất định, nhưng điều đó thường không hoàn toàn thanh tịnh, rõ ràng hay chuẩn xác. Ngoài ra, người ta cũng có thể biết được thông qua các phương pháp hỗ trợ khác không liên quan đến sự tu hành thanh tịnh (**Brahmacariya**). Do đó, cứ hễ biết được tâm niệm người khác thì chưa chắc đã phải là bậc Thánh. Không những thế, ngay cả việc có đầy đủ giới hạnh hay chưa cũng chưa thể khẳng định được.

Vì Ngài vừa là bậc xuất gia, lại có những năng lực đặc biệt này, nên những người thiếu trí tuệ, vốn chỉ hay sùng bái những điều thần bí, thường không thể phân biệt được đâu là bậc Thánh thật sự và đâu là những vị đạo sĩ (phái xuất thế) có bản ngã lớn.

### Việc thiết lập các trường Phật học lớn

Ngài Thiền sư cũng đã đứng ra thiết lập và hỗ trợ để hình thành nên các trường Phật học (**Pariyatti**) lớn tại khắp các thành phố ở vùng Hạ Miến. Đó là bởi Ngài thấu hiểu sâu sắc công đức và ơn ích to lớn của Pháp học.

Về phần mình, Ngài vẫn thích thú với nếp sống lâm viên, nay rừng này mai rừng khác, di chuyển từ gốc cây này sang gốc cây kia, vui hưởng đời sống độc cư trọn đời. Ngài tự mình thân chứng (**Sanditthika**) niềm an lạc của Pháp hành (**Patipatti**) và hằng mong muốn niềm an lạc chân thực ấy được gìn giữ, lan tỏa và hưng thịnh cho thế hệ mai sau. Mà thứ có thể bảo tồn và duy trì được những quả vị giải thoát chân thực ấy thì không gì khác ngoài Pháp học (**Pariyatti**).

Cũng giống như việc phải có bờ đê thì nước mới giữ lại được, và có nước thì hoa sen mới có thể sinh trưởng tốt tươi. Ba trụ cột của Giáo pháp là Pháp học (**Pariyat**), Pháp hành (**Patipat**) và Pháp thành (**Patividha**) cũng tương tự như ví dụ ấy vậy. Do đó...