
## TRANG 289

## DỊCH VIỆT ONLY

**Bậc A-la-hán và các bậc vĩ nhân**

Ngài (Đức Sayādaw) đã không quản ngại công sức để khai mở và thiết lập những học viện Phật giáo (*pariyatti*) quy mô. Ngài cũng đã thực hiện nghi thức kiết giới Sīmā cho rất nhiều ngôi đại giới đàn. Thậm chí, ngay trong lúc đang tiến hành nghi thức kiết giới Sīmā, sắc nghiệp tái sinh (*cuti-kammaja-rūpa*) của Ngài đã chấm dứt (Ngài viên tịch). Suốt đời, Ngài luôn khuyến khích và thúc liễm các vị Tỳ-kheo trẻ chuyên tâm kinh điển, đồng thời không ngừng hỗ trợ và khích lệ các vị trưởng lão tinh tấn hành thiền.

Lời dạy của một số vị thầy thiền và hành giả thời nay cho rằng "không cần học rộng, học rộng khó đắc pháp" thật sự cách xa với chân lý như trời với vực, như thiên giới với địa ngục *Avīci*. Chính vì vậy, các bậc Trưởng lão hoằng pháp thuở xưa như Ngài Sīlavuddhi, Ngài Caṇḍavajjī, Ngài Rohaṇa và nhiều vị khác đã luôn chăm sóc và nuôi dưỡng các vị Sa-di nhỏ tuổi – những vị như Ngài Moggaliputta, Ngài Nāgasena, Ngài Arahaṃ vốn là những bậc Thánh tương lai. Các Ngài đã che chở các vị ấy như nuôi dưỡng những vị hoàng thái tử kế vị ngai vàng, nuôi lớn các vị ấy bằng dòng sữa tri thức kinh điển (*pariyatti*).

Thực tế, những bậc A-la-hán vĩ đại thường xuất thân từ những vị Sa-di nhỏ tuổi. Muốn có lõi gỗ quý thì phải biết giữ gìn từ lớp vỏ, muốn ăn trái ngọt thì nhất định phải bắt đầu từ việc gieo trồng cây xanh.

### Giáo pháp lan tỏa tại Mawlamyine

Năm 1249 (Miến lịch), Trưởng lão U Sīla lần đầu tiên đặt chân đến vùng Mawlamyine. Ban đầu, Ngài trú tại một khu rừng lớn gần nghĩa trang phía bắc làng Tayoke Hla, vùng Hpa-an. Sau đó, dân làng đã phát tâm xây dựng và cúng dường một ngôi chùa tre. Danh tiếng đức hạnh của Ngài tỏa ngát khắp vùng, khiến Phật tử khắp nơi tìm đến thỉnh cầu Ngài giúp đỡ các Phật sự.

Ít lâu sau, khi đang trú tại một ngôi chùa rừng ở vùng Taungwaingyi, Ngài đã đến chùa Mahāmyaing ở Mawlamyine để gặp vị trụ trì là Ngài U Sāgara, nhờ vị này làm thầy tế độ cho một đệ tử của Ngài chuẩn bị thọ giới Tỳ-kheo. Ngài U Sāgara vốn đã biết Trưởng lão U Sīla là đệ tử của ngài Makkhara Sayādaw – một vị giáo thọ nổi tiếng trong hệ phái rừng Tawya. Đêm trước đó, Ngài U Sāgara đã nằm mộng thấy "một thớt voi trắng đi vào từ hướng đông của chùa". Vào ngày làm lễ thọ giới, khi thầy trò Trưởng lão đi khất thực trên con đường rừng, dù nơi đó vốn thưa thớt bóng người, nhưng dân chúng đã vân tập đông đảo, dâng cúng đầy đủ các loại vật phẩm và vật thực ngon lành, đến mức người ta phải dùng những đòn gánh lớn nhỏ để chuyển đồ cúng dường về chùa Mahāmyaing. Ngay cả những món ăn đã chuẩn bị sẵn cho buổi lễ cũng trở nên dư thừa.

Đây chính là những hạt giống đầu tiên của hệ phái rừng Tawya được gieo xuống vùng Mawlamyine. Một lần nọ, thí chủ U Thā Nyo cùng các cư sĩ khác ở Mawlamyine đã thỉnh Ngài đến và cúng dường ngôi đại tự viện Panbetan. Tuy nhiên, một nhóm Tăng chúng thuộc hệ phái Shwegyin đã

---

kiện cáo sự việc này. Họ lên án rằng: "Vị sư này đang cưỡng chiếm chùa. Ngài đi đến đâu là nơi đó xảy ra tranh chấp", cùng nhiều lời cáo buộc khác nhằm gây khó dễ. (Đây là điểm cần lưu ý về nghiệp quả can thiệp). Ban đầu, chư Tăng tại địa phương do Trưởng lão Vajirārāma và Trưởng lão Minkhin dẫn đầu đã triệu tập Ngài để đối chất. Thí chủ U Thā Nyo thưa rằng: "Thay mặt Ngài, con xin đứng ra chịu sự thẩm vấn", nhưng các vị ấy bác bỏ: "Chúng tôi không kiện ông". Phía đối đầu có những thí chủ quyền thế như ông chủ chùa U Zina và vị triệu phú U Moe. Vào ngày xét xử, lo ngại sẽ xảy ra náo loạn, ông U Moe đã mời cả viên công sứ người Anh, "Mr. Pratt", cùng đội cảnh sát đến bảo vệ, đồng thời dựng một rạp lớn để tiếp đón. Trưởng lão U Sīla cũng từ chùa Taung Taungwaing đi đến nơi theo lệnh triệu tập. Vừa thấy Ngài bước vào, viên công sứ Anh – dường như đã biết danh Ngài từ trước – liền đứng dậy cung kính chào, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Trưởng lão không nói lời nào, chỉ đi thẳng vào giữa hội chúng Tăng-già. Ngài đảnh lễ Tam Bảo, rồi cung kính chắp tay thưa với các bậc Trưởng lão về lý do mình có mặt theo lệnh triệu tập. Thấy dáng vẻ khiêm cung và tôn kính của Ngài, một số cư sĩ tại đó lại nảy sinh lòng thương hại, cho rằng: "Vị sư này chắc đang vô cùng sợ hãi nên mới lễ lạy như thế". (Các bậc giáo thọ am tường kinh điển và những thí chủ chỉ biết nương tựa vào lối tu ấy nên lưu tâm về điểm này).

Một vị Trưởng lão trong hội đồng lên tiếng: "Việc Tỳ-kheo U Sīla nhận cúng dường ngôi đại tự viện Panbetan này từ các thí chủ là điều không phù hợp. Chúng tôi muốn Ngài từ bỏ ngôi chùa này".

Trưởng lão U Sīla đáp: "Bạch hóa các Ngài, người nhận cúng dường ngôi chùa này không phải là tôi, mà là Tỳ-kheo U Mālā ở Mudon".

Trưởng lão Vajirārāma nói: "Tỳ-kheo U Sīla và vị sư ở Mudon cùng một tư tưởng, Ngài không nên dùng cách này để thoái thác".

(Lúc ấy có người dẫn điển tích rằng): "Trong truyện tiền thân *Siṅghapuppha*, dù người thợ săn có hái đi bao nhiêu gương sen và hoa sen đi nữa cũng không bị kết tội là kẻ trộm. Nhưng vị ẩn sĩ Bồ-tát, người chỉ đứng dưới gió để ngửi hương sen, lại bị vị thiên nữ giữ cây cáo buộc là kẻ trộm hương. Nếu là người khác nhận cúng dường ngôi chùa này thì có lẽ đã không bị chỉ trích. Nhưng với một vị như Trưởng lão U Sīla, người vốn đã từ bỏ và đem cúng dường lại tất cả mọi lợi lộc, nếu Ngài không thể từ bỏ ngôi chùa này thì e là không thỏa đáng".

Trưởng lão U Sīla chất vấn lại: "Các Ngài là những vị luật sư (*vinayadhara*) có trách nhiệm phân xử vụ việc này, nhưng các Ngài lại đến ngôi chùa của bên nguyên đơn, thọ thực các món vật thực do bên nguyên chuẩn bị, và ngay cả trước khi bắt đầu thẩm vấn hay xem xét, các Ngài

---

## TRANG 290

## TRANG 291


đã dùng cụm từ 'chùa của bên nguyên đơn' để gọi tên nơi này. Nếu các Ngài tiếp tục xét xử và đưa ra quyết định như thế, liệu có đúng với tinh thần của Giáo Pháp và Giới Luật hay không?".

Trước lời lẽ ấy, các vị Trưởng lão trong hội đồng hoàn toàn im lặng, không thể nói thêm lời nào. Trưởng lão U Sīla liền đảnh lễ Phật rồi đứng dậy rời đi. Viên công sứ Mr. Pratt cũng cung kính tiễn Ngài và nói với hội chúng rằng: "Đây là một vị sư vô cùng đức hạnh". Sau đó, vị này kể lại những sự kiện đã diễn ra khi gặp Ngài tại trạm dừng chân ở Kyaikto rồi mới ra về. Bốn năm ngày sau, phu nhân của viên công sứ đã đến dâng cúng các bộ y song (*dvicīvara*) và vật thực cho Trưởng lão cùng chư Tăng đi cùng.

Sau đó, vụ việc được đưa ra tòa án xét xử lại. Tòa phán quyết rằng đây là chùa thuộc về Tăng chúng (*saṅghika*), nên việc Ngài cư trú là không có lỗi. Từ ngôi chùa này, công cuộc hoằng pháp của hệ phái rừng Tawya tại Mawlamyine chính thức bắt đầu. Với sự hiện diện của khoảng ba mươi đến bốn mươi vị Tăng, nơi đây đã trở thành một học viện lớn, hằng năm đều tổ chức các kỳ thi sát hạch Giới luật (*Vinaya*).

Các kỳ thi tương tự cũng được tổ chức tại Kyaikto và Thaton (việc thiết lập học viện tại Thaton đã được trình bày ở phần trước). Trong quá trình hoằng pháp, việc Trưởng lão chú trọng thiết lập các học viện chuyên sâu về Giới luật không phải chỉ vì lợi ích trước mắt, mà dường như Ngài đã nhìn thấu nhu cầu lâu dài của giáo pháp trong tương lai. Có lần, tại giới đàn Kyaikkaw Seik, khi thấy một người tên là U Po Yin ở Kyaikto thường hay có tâm chỉ trích các vị Tỳ-kheo mỗi khi thấy họ có chút thiếu sót, Trưởng lão đã gọi: "Này Po Yin, lại đây", rồi dẫn ông ta vào trong giới đàn.

Tại đó, Ngài dạy rằng: "Này Po Yin, sau khi ta không còn nữa, giáo pháp mà ta đã dày công xây dựng này sẽ không giữ được như hiện trạng đâu". Lời giáo huấn này chẳng khác nào một lời tiên tri về vận mệnh tương lai của giáo pháp.

Ngài còn dạy thêm: "Nếu tâm con được sửa đổi và có lòng tin kính thì đó là phước báu của con, bằng không thì thôi, đừng có nói năng này nọ".

### Hệ phái rừng Nyaunglebin

Ngôi chùa rừng Nyaunglebin cũng được thành lập vào năm 1256 (Miến lịch) theo chỉ thị của Trưởng lão. Ban đầu, có 11 vị Tăng cùng Trưởng lão U Soma (người làng Khin-U Monhla, từ chùa rừng Khway) đến đây trú ngụ. Chính Trưởng lão U Sīla đã thực hiện nghi thức kiết giới Sīmā tại đây và cho tổ chức các kỳ thi sát hạch Giới luật. Về sau, nơi đây đã sản sinh ra nhiều bậc cao tăng lỗi lạc cho giáo pháp như Đại Trưởng lão Aggamahāpaṇḍita U Ariya (vị được chính Trưởng lão U Sīla làm thầy tế độ) và Đại Trưởng lão Aggamahāpaṇḍita Medinī U Āḷāra.
