## TRANG 295

### Hành trình Parinibbāna và các Xá-lợi

Hạ lạp năm 1268 (Ấn lịch), Ngài an cư tại Kwam-thae Taw-ya trên đảo Bilu. Có mười nơi từ vùng đồng bằng châu thổ đã thỉnh Ngài đến để làm lễ kết giới Sīmā. Trước khi lên tàu tại Yangon, trong lúc Ngài tạm nghỉ tại tu viện Bagan Taung ở Mawlamyine, Ngài Đại đức **U Ñāṇuttara** từ Kyundo Taw-ya cũng đến thỉnh Ngài kết giới Sīmā. Trong khi Ngài đang tịnh dưỡng một mình trong phòng, Đại đức **U Ñāṇuttara** đã vào xoa bóp tay chân để hầu cận Ngài. Thấy Ngài chỉ còn da bọc xương, vị đại đức không khỏi xót xa tâm can.

Ngài truyền dạy rằng: "Máu thịt của lão đã khô héo cả rồi. Những người thỉnh lão có lẽ tưởng lão còn khỏe, nhưng không đâu **U Ñāṇuttara** à, lão chẳng còn khỏe nữa. Nếu phải tịch, lão cũng chẳng muốn tịch ở nơi phố thị xóm làng, mà chỉ muốn tịch giữa chốn rừng sâu mà thôi." Nghe những lời ấy, tâm vị đại đức lại càng thêm sầu muộn.

Nhưng rồi Ngài nói lời an ủi: "**U Ñāṇuttara** hãy cứ chuẩn bị đầy đủ cho việc kết giới Sīmā đi, có lẽ lão sẽ về kịp mà." Lời ấy khiến vị đại đức vững tâm hơn đôi chút, nhưng câu nói "Chẳng muốn tịch nơi phố thị" cứ vang vọng mãi trong tai không dứt.

Ngày hôm sau, Ngài cùng các đệ tử lên tàu đi Yangon. Do người giữ vé sơ suất không lấy vé, Ngài phải ở trên boong tàu. Khi định xuống, cầu tàu đã được rút lên nên Ngài đành phải tùy nghi theo tàu mà đi. Lúc này Ngài đã 75 tuổi, căn bệnh lỵ ra máu lại càng trầm trọng, Ma vương không ngừng quấy nhiễu gây khổ não. Đến Yangon, Ngài đổi sang tàu đi Pantanaw rồi lần lượt thực hiện lễ kết giới Sīmā tại các làng We-htaung, Daw-wa, In-ma và các Sīmā ở Seik-gyi, Kha-ywe-kha-pho. Tiết trời tháng Tagu (tháng 4) nóng bức khắc nghiệt, thân tứ đại của Ngài chỉ còn thoi thóp chút hơi tàn.

Sau đó, Ngài ghé vào tu viện Shwe Hintha Taw-ya ở Nyaung-don rồi từ Danubyu khởi hành đi dự lễ kết giới Sīmā tại Zalun. Suốt dọc hành trình, Ngài không ngơi nghỉ mà luôn tế độ chúng sinh. Các phái đoàn đón rước từ Zalun đã tề tựu đông đủ. Do chiếc tàu thủy thường chạy quanh đảo bị hỏng nên Ngài phải đợi ở Danubyu. Căn bệnh lỵ ra máu liên tục hành hạ, Ngài không còn dùng được chút vật thực nào nữa. Một người xoa bóp thốt lên:

"Máu thịt của Ngài đã cạn kiệt, chạm vào đâu cũng chỉ thấy toàn xương, các đại trong thân đã hoại cả rồi." Tuy vậy, gương mặt Ngài vẫn luôn rạng rỡ và an nhiên.

Đến 2 giờ sáng ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Kason năm 1269, Ngài cập bến Zalun. Nghe tiếng còi tàu, cả thành phố đổ xô ra đón rước. Đoàn kịch của ông Pu Zin đang biểu diễn cũng phải dừng lại. Vì chiếc tàu thường lệ chưa sửa xong nên một chiếc tàu khác được điều đến thay thế, và kỳ lạ thay, tên của chiếc tàu đó lại là "Nibbāna" (Niết-bàn). Khi đến tu viện ở nghĩa trang thành phố Zalun, Ngài lập tức thực hiện việc kết giới Sīmā ngay trong ngày mà không chút chậm trễ.

## TRANG 296

Suốt ngày hôm ấy, Ngài cho phép đại chúng chiêm bái, nhưng đến đêm, chứng lỵ ra máu lại tái phát dữ dội vô số lần. Ngài từ chối mọi loại thuốc men. Thấy y phục bị vấy bẩn, các đệ tử định thay y mới nhưng Ngài nắm chặt không buông. Chỉ khi đệ tử bạch rằng: "Bạch Ngài, đây cũng là y Pāṃsukūla (y phấn tảo) và đã được đóng dấu Bindu (điểm dấu tịnh) rồi ạ" thì Ngài mới đồng ý cho thay. Đến 7 giờ sáng thứ Hai, ngày mùng 4, ở tuổi 75, với đầy đủ **Sati-Sampajañña** (Chánh niệm và Tỉnh giác), Ngài đã hoàn toàn buông bỏ gánh nặng ngũ uẩn. Các bậc thiện tri thức luôn dùng tấm thân này cho giáo pháp và chúng sinh cho đến tận phút cuối cùng.

Thấu triệt sự an lạc vĩnh cửu vô song của **Asaṅkhata Nibbāna-dhātu** (Vô vi Niết-bàn giới), các bậc Thánh A-la-hán vô cùng hoan hỷ khi bước vào **Parinibbāna** (Bát-niết-bàn).

Đúng như tâm nguyện "Chẳng muốn tịch nơi phố thị", Ngài đã nhập **Parinibbāna** tại khu rừng nghĩa trang. Những vị Tăng và cư sĩ không hiểu rõ sự khác biệt giữa việc nhập **Parinibbāna** và cái chết thông thường của con người, giữa việc đạt được giới an tịnh vĩnh cửu và sự tái sinh khổ não bất định, đã khóc thương nức nở với tất cả niềm tôn kính.

Các bậc thiện nam, chư Thiên và Phạm thiên thấu hiểu sự thật đã biểu lộ những dấu hiệu hoan hỷ khác nhau. Khắp vùng đất Zalun rung chuyển bởi một trận động kinh, đất mẹ đại địa vang rền tiếng lành "Sādhu" (Lành thay). Các loài cây trái trái mùa đồng loạt đua nhau đâm chồi nảy lộc, rộ nở hoa trái để cúng dường.

Những sự kiện tưởng chừng "không thể, chỉ là phóng đại" trong kinh điển Pipiṭaka, nay khiến các bậc trí giả thiện tri thức càng thêm tin tưởng, thấy rằng "những gì ghi chép lại vẫn còn là ít".

Vì Ngài xả bỏ gánh nặng ngũ uẩn tại thị trấn nhỏ Zalun nên các thí chủ ở Yangon cho rằng nơi đây không xứng tầm với đức độ của Ngài. Họ đã thuê nguyên một chuyến tàu đến để đòi rước kim thân Ngài về. Cuối cùng, theo lệnh của các bậc Trưởng lão, họ còn định huy động cả quân đội và cảnh sát để gây áp lực.

Giống như thuở Đức Thế Tôn nhập **Parinibbāna**, người dân Zalun và vùng Malla (ý chỉ người dân địa phương) cũng sục sôi đau thương và phẫn nộ, quyết "đổi mạng" để giữ lại kim thân. Các Tăng ni và cư sĩ từ vùng phía Đông nơi Ngài từng trụ ngụ cũng đưa ra những lý lẽ riêng để thỉnh Ngài về. Nhưng người dân Zalun nhất quyết không nhượng bộ. Họ tuyên bố: "Dù có tan thành tro bụi cũng không để một chút gì bay sang phía Đông!", cả chư Tăng lẫn cư sĩ đều để cho cái ngã xen vào tâm cảm hoài thương, khiến cả nước đành phải bỏ cuộc. Trong một đại lễ công đức mà ác nghiệp lại nảy sinh.

## TRANG 297

Vì sợ kim thân bị đánh tráo hoặc lấy trộm, người dân đã làm một chiếc quan tài bằng đồng và treo lên cao ngoài tầm với của mọi người, luôn có bốn người túc trực canh giữ. Em gái của Ngài và người dân từ nhiều nơi đến bên kim thân vừa khóc vừa buông lời trách móc, oán than người dân Zalun, nhưng họ vẫn thản nhiên: "Muốn khóc sao cũng được, miễn không mất kim thân là được rồi."

Lễ trà-tỳ được tổ chức vào tháng Tabodwe (tháng 11 Ấn lịch) năm ấy. Việc xây dựng và cúng dường không thiếu một thứ gì, không khí đông đúc nhộn nhịp như ong vỡ tổ. Người dân Zalun đã có cơ hội bày tỏ lòng thành tín một cách trọn vẹn nhất. Tại khu vực trà-tỳ, những bức họa tái hiện cuộc đời của Ngài được trưng bày khiến ai nấy đều không cầm được nước mắt. Suốt ngày đêm, các đội văn nghệ địa phương không ngừng ca hát, khóc kể về cuộc đời Ngài, khiến ngay cả các bậc Trưởng lão cũng phải cúi đầu rơi lệ. Đến lúc này, mọi người mới thấu hiểu hết ân đức sâu dày của Ngài.

Bốn phía quanh kim thân, những ngọn nến được thắp sáng; dù gió thổi từ bốn phương hội tụ nhưng ngọn lửa vẫn như nghiêng mình cúi đầu hướng về phía kim thân mà rực cháy. Trên quan tài đồng, nhiều người cùng nhìn thấy rõ rệt hình ảnh một vị sư bưng bát khất thực bước đi, phía sau có một vị Thiên nhân che lọng hộ tống. Không chỉ một người mà rất nhiều người đã chứng kiến cảnh tượng ấy.

Trong suốt buổi lễ, không hề xảy ra xích mích hay mất mát đồ đạc gì; hoa đốn-na (Dona) và nước thơm bán không kịp cho người mua. Ban đầu lễ trà-tỳ định diễn ra vào ngày mùng 2 sau trăng tròn tháng Tabodwe, nhưng do đại chúng quá say sưa theo dõi các đội văn nghệ ca diễn nên thời gian trôi qua, đến 8 giờ sáng ngày hôm sau lễ trà-tỳ mới thực hiện được. Kim thân Ngài không hề có mùi tử khí. Sau khi hỏa thiêu, lượng gỗ trầm hương và gỗ than-kha (thanaka) dùng để cúng dường vẫn còn dư lại tới năm xe bò.

Khi tro cốt được đặt vào thùng sắt và cho phép đại chúng thỉnh về, ngay lập tức mọi người tranh nhau lấy, đến nỗi than và các hàng rào tre cũng hết sạch, mặt đất nơi đó bị đào thành một cái hố lớn. Những người thỉnh được tro cốt đem về đặt vào lọ nước thơm để thờ phụng, thấy từ tro bụi hiện ra những viên nhỏ li ti (Xá-lợi) lung linh ẩn hiện.

Ban tổ chức lễ tang đã cất giữ tro cốt vào các rương sắt, khóa nhiều lớp và canh giữ vô cùng nghiêm ngặt, thậm chí sẵn sàng đổi cả tính mạng để bảo vệ. Khi mở ra xem, mọi người kinh ngạc phát hiện tro trong bát bạc không còn là tro nữa mà đã biến thành những viên Xá-lợi tròn trịa. Lúc bấy giờ, ngay cả những người từng gần gũi Ngài nhưng vốn chưa từng nghĩ Ngài là bậc cao thượng như thế, đã cảm thấy hối hận khôn nguôi vì sự hời hợt của mình khi xưa.

Dù lễ tang đã kết thúc, nhưng tại nơi trà-tỳ vẫn rộ lên tin đồn về "những quầng sáng lớn bay lên không trung", khiến suốt cả mùa hè nơi đây vẫn tấp nập như có hội lớn. Các buổi lễ đặt bát cúng dường quy tụ hơn một ngàn xe bò, còn đông đúc hơn cả lúc diễn ra lễ tang chính thức.