## TRANG 298

Lại phải tôn thờ Xá-lợi đúng thật và xây tháp cát để cúng dường. Từ tháp ấy, người ta lại thấy những vầng hào quang lớn bay vút rực rỡ. Khi lấy cát từ gần tháp treo vào nước, lại thấy những hạt nhỏ màu ngọc trai cỡ hạt thầu dầu nổi lên hụp xuống trong bình. Cứ như thế, việc cúng dường, đãi đằng và những người thỉnh Xá-lợi đông đúc đến mức làm tắc nghẽn cả đường xe bò vào tháng Kason, Nayon (tháng 5, 6 dương lịch); mãi đến khi vụ mùa bắt đầu thì người mới thưa dần.

Tại nơi đó, các bậc hữu duyên đã xây dựng và tôn thờ một bảo tháp thờ di cốt (Xá-lợi xương) cao 30 khuỷu tay (thăn-daung).

(Để biết thêm chi tiết, xin xem trong cuốn Tiểu sử Thiền sư U Thila xuất bản lần thứ hai tại nhà in Hanthawaddy năm 1959.)

### Chuyện về Ngài qua lời kể trong nước mắt

Liên quan đến Thiền sư U Thila, dưới đây là những điều ghi chép lại theo lời kể của bà Daw Hla Thin, 68 tuổi, là cháu của Ngài (cháu ngoại của bà Daw Hla Thu, tức bà O, em gái của Ngài) vào ngày 17 tháng 1 năm 1977. Bà Daw Hla Thin hiện sống ở phía Tây chợ thị trấn Kyaukse.

Phu quân của bà Phwa Thuzar (em gái Ngài) là ông U Shwe Lan; phu quân của bà Daw O (tức Phwa Hla Thu) là ông U Shwe Nu; còn người được gọi là 'Saya Pho Kaung' trong tiểu sử của Ngài chính là ông U Shwe Phu, cậu ruột của mẹ bà Daw Hla Thin. Ông U Shwe Phu làm thầy thuốc và thọ đến 90 tuổi. Các cháu thường gọi ông là "Saya Apho Kaung" (Ông tiên thầy thuốc).

Bà Daw Hla Thin từ nhỏ đã sống với bà ngoại Daw Hla Thu (bà O), nên mỗi khi có dịp, bà Hla Thu lại kể chuyện về người anh làm sư của mình, và mỗi lần kể bà đều rơi lệ.

Khi mẹ Daw Cho mang thai Ngài, bà chỉ ăn chuối và đường thốt nốt để dưỡng thai. Ngay từ thời thơ ấu, Ngài đã luôn biết nghĩ cho người khác và rất sợ điều bất thiện. Theo thói quen của trẻ em thôn quê, khi chăn bò hay nhặt rơm, chúng thường hay thọc tay vào hang bắt cá lóc; nhưng cậu bé Maung Shwe Tha (tức Thiền sư tương lai) vì không dám làm điều ác nên chỉ ở lại trông bò và gom rơm thay cho chúng bạn. Khi thấy các em gái là Ma Thu Zar, Ma Hla Thu và Ma Hla Aung đang mút mía, nếu cậu xin-

Các em liền bảo: "Nếu anh chịu để tụi em lấy cây mía gõ vào đầu thì mới cho." Để các em vui lòng, cậu bé liền đưa đầu ra cho các em gõ rồi mới nhận mía.

Maung Shwe Tha là con trai cả nên thường giúp mẹ Daw Cho từ việc nấu cơm, gánh nước đến giã gạo. Một ngày nọ, khi Maung Shwe Tha đang giã gạo,

## TRANG 299

Cô em gái Ma Hla Thu cứ vòi vĩnh đòi anh phải bế, thế là anh vừa phải địu em trên lưng vừa phải giã gạo. Lúc về già, bà Phwa Hla Thu kể lại những chuyện nũng nịu thái quá với anh mình thuở nhỏ mà không cầm được nước mắt. Nhưng bà cũng không thể không kể lại.

Người em gái lớn Ma Thu Zar, khi Ngài mới đi vào rừng xuất gia, đã lặn lội khắp rừng tìm Ngài để cúng dường đường thốt nốt và nến. Ngài bảo: "Đừng có theo ta nữa," khiến Ma Thu Zar phải khóc lóc trở về. Khi Ngài đang ở trong khuôn viên chùa Kusinara tại làng Phaya Kalay Oat Kan, bà Ma Hla Thu đi dâng cơm, nghe thấy Ngài đang nói chuyện một mình. Bà lén nhìn thì thấy trước mặt Ngài có một con rắn lớn đang nằm phủ phục.

Khi Ngài bảo: "Này thí chủ She (Rắn), hãy đi đến nơi nào an toàn đi," bà thấy con rắn liền quay đầu bò đi mất.

Nơi Ngài đi ngang qua đầu tàu hỏa khiến tàu dừng lại được cho là đoạn giữa Phaya Kalay và Wanbe In.

Liên quan đến vụ mẫu thân Daw Cho bị bọn cướp sát hại, người ta đã dựng chuyện bắt giữ Pho Par Tu và Pho Shwe Nu. Họ phải đi tàu thủy xuống Yangon để thẩm vấn. Pho Shwe Nu dù đang bị sốt rét vẫn thường xuyên phải đi hầu tòa. Quan tòa thường cho tiền, dỗ dành và hỏi cô bé Ma Hla Thu rằng:

"Có phải cha mày và anh mày (vị sư) đã giết bà Daw Cho không?" Mỗi lần bị hỏi, Ma Hla Thu đều trả lời: "Không phải." Cuối cùng, vụ án phải bãi bỏ. Tuy nhiên, trong số những kẻ đánh chết mẫu thân có một người làng Wanbe In, và tất cả bọn chúng sau đó đều phải chết vì ác nghiệp (chết bất đắc kỳ tử).

Khi mẫu thân qua đời, Ma Thu Zar và các chị em khác gào khóc thảm thiết, Ngài liền bảo các em:

"Nữ thí chủ ấy là một người can trường (ý nói đã trả xong nghiệp), các cô đừng có hú lên như tiếng chó tru như vậy." Ngài muốn ám chỉ đó là nợ nghiệp trong vòng luân hồi.

Khi Ngài viên tịch, lễ tang ban đầu không mấy đông đúc. Nhưng từ khi một người Hoa bị tàn tật đến đảnh lễ và khỏi bệnh một cách kỳ diệu, người đến dự mỗi ngày một đông thêm. Một phú thương người Hoa ở thị trấn Zalun theo như điềm báo trong giấc mơ đã cúng dường một khu đất để làm nơi hỏa táng kim thân, và tương truyền tại chính khu đất đó, người ta đã đào được những hũ vàng.

Đây là tất cả những chuyện về Ngài mà tôi ghi nhớ được từ lời kể trong nước mắt của bà Daw O (tức cụ bà Hla Thu), người đã thọ 90 tuổi.

(Bức ảnh Thiền sư U Thila in trong cuốn sách này là do bà

## TRANG 300

Daw Hla Thin ở Kyaukse cung cấp. Ảnh được lấy từ chùa Kyaikkasan, được cho là chụp khi Ngài ngoài 60 tuổi.)

HẾT PHẦN THỨ HAI.

**MỘT... KHOẢNG THỜI GIAN**

**HAI... LOẠI CÔNG VIỆC**

**LỢI ÍCH... VÔ NGẦN**

...

Liệu chúng ta có thể né tránh hay trốn chạy khỏi việc đối diện với Danh và Sắc được chăng? Hai luồng hơi thở ra và vào vốn dĩ luôn hiện hữu từ khi mới sinh cho đến lúc chết. Theo lời dạy của đức Phật, việc giữ tâm trên Danh và Sắc (thân và tâm) liệu có mệt nhọc không, có tốn tiền không, có phải đi thuê đi mượn của ai không? Có tốn thời gian không, và người khác có biết được không? Việc duy trì đó chính là **Vīriya** (Cần), và sống đúng theo sự duy trì đó chính là **Vīriyiddhipāda** (Cần Thần Túc); giữ ngay bây giờ, sống ngay bây giờ, thì an lạc ngay trong hiện tại. Khi sự an lạc này thâm nhập, hành giả sẽ tự mình biết rõ về sự Tinh tấn (Vīriya) đó, không cần phải đi hỏi ai khác. Liệu nó có thể không tiến bộ ngày qua ngày chăng? Không có một người, một vị Thiên hay vị Phạm thiên nào có thể ngăn cản được. Liệu có ai có thể dùng quyền lực để cưỡng đoạt lấy sự an lạc từ bậc thiện trí này chăng? Thật là cao quý thay!

Liệu có chuyện chỉ thành tựu trong oai nghi này mà không thành tựu trong oai nghi kia chăng? Liệu có cần phải chọn lựa nơi chốn chăng? Trong khi đang ở một mình, hay khi đang ở nơi sân tháp, nơi cội Bồ-đề, hay ngay cả khi đang sống cùng con cái, cháu chắt... đều có thể thực hành được cả.

Này... vì gánh nặng uẩn thân vẫn còn đó, nên chúng ta vẫn phải làm những công việc mà mình đã dự định. Thế nhưng đức Phật không gọi đó là "Công việc" thực sự. Đây (việc hành thiền) mới chính là Công việc. Trong khi làm những việc đời như thế, liệu ta có thể vừa làm vừa hành (thiền) được chăng? Trong cùng một lúc, cả hai công việc đều được hoàn thành. Chẳng phải khi vừa hành vừa làm thì công việc lại càng dễ thành đạt và mang lại nhiều lợi ích hơn sao?

Khi đã hiểu rõ sự an lạc này rồi, người ta sẽ luôn giữ gìn pháp hành liên tục, không để phí hoài ngay cả những lúc rảnh rỗi hay nghỉ ngơi.

### Cố Đại Trưởng Lão Thiền Sư Webu Sayadaw

(Ghi chép từ lời giáo huấn Ngài thường ban dạy)