## TRANG 310

Việc đứa trẻ lẩm bẩm trong lúc ngủ say khi bị dạ xoa định bắt ăn thịt ngoài thành vào ban đêm rằng: "**Namo Buddhassa** = Con xin đảnh lễ đức Phật", mà chỉ nhờ lời ấy dạ xoa kinh hãi khiếp sợ bỏ chạy (như sự kiện trong Chuyện tích Pháp Cú), liệu có lý do nào để không tin được chăng? Trong việc thực hành Pháp, giữa xưa và nay có gì khác biệt chăng?

### Từ khổ cực mới có được an lạc

Những sự việc vừa nêu trên chỉ là những chuyện phổ biến nhiều người biết đến. Trong hơn bốn mươi năm vào rừng tu tập, chắc hẳn còn rất nhiều hiểm nguy và những điều mầu nhiệm khó tin khác nữa. Những nỗi khổ, hiểm nguy và điều mầu nhiệm ấy đối với các hành giả hành trì hạnh đầu đà ở rừng (araññavāsī) không còn là chuyện lạ. Đời sống vốn dĩ tràn đầy khổ đau. Con đường đi ngược dòng đời thường gặp phải những nỗi khổ dồn dập hơn. Tuy nhiên, cái khổ của con đường xuôi dòng chỉ khiến cái khổ tiếp tục nảy sinh, vòng xoáy khổ đau không bao giờ chấm dứt cho đến tận nẻo ác đạo. Còn cái khổ của con đường ngược dòng lại chỉ làm nảy sinh và tăng trưởng hạnh phúc.

“Thấy cái khổ lớn thì hãy nhẫn nại chịu đựng cái khổ nhỏ; nhìn thấy hạnh phúc lớn thì phải dứt khoát từ bỏ những hạnh phúc nhỏ nhoi.” (Ngài Cố đại trưởng lão Mahāgandhayon Sayadaw, Sagaing.)

Có chịu đau mới được hưởng an nhàn. Trong việc bắc cầu từ khổ đau đến hạnh phúc, cần phải có một cây cầu vững chãi làm nơi nương tựa. Cây cầu đó chính là đức tính "Nhẫn nhục trì giữ" (**adhivāsanakhantī**) của mỗi người: “Dù sai hay đúng, dù xấu hay tốt, đó là nghiệp báo của ta, không ai làm mà là do chính ta tạo nên. Kẻ gây nghiệp là người mới, kẻ chịu nghiệp là người cũ; bất cứ điều gì ập đến, ta xin dấn thân cam chịu.”

Vì lẽ đó, ngay cả các đạo sư thế gian của Mật tông Tây Tạng cũng cho rằng: “Từ sự đau đớn của thân xác mới phát triển được trí tuệ và tâm thức”. Ngày nay, vị Lạt-ma Tây Tạng nổi tiếng là Tiến sĩ Rampa, người được cho là có thể xem được hồ sơ Akashic (một dạng Túc mạng minh), có Thiên nhãn thông và có thể du hành bằng tâm thức như bay trên không trung. Cuộc đời ông đã được tôi luyện và nhiều lần chạm cửa tử thần. Ông ví mình như viên linh đan được nung nhiều lửa, như vàng được hỏa thiêu kỹ, như tảng đá được mài giũa nhiều.

Lại nữa, vào năm 1943 tại thành phố Hague, Hà Lan, có một người tên là Peter Hurkos bị chấn thương đầu nghiêm trọng dẫn đến hôn mê. Khi tỉnh lại, chỉ cần ông tập trung chú ý vào một điều gì đó là có thể nhìn thấy quá khứ và tương lai. Ông đã hợp tác với tổ chức thám tử thế giới để phá nhiều vụ án. Chỉ cần nhìn vào một vật dụng liên quan, ông có thể nói chính xác về hành tung, quá khứ và tương lai của chủ nhân vật đó.

## TRANG 311

Ngay cả những bậc có thần thông thế gian còn nhận ra giá trị của khổ đau và có thể hiển thị thần lực ở mức độ nhất định.

“**Nayidaṃ sithilamārabbha**.” (Theo kinh Nava, thiên Tương ưng Nhân duyên) – Sự giải thoát khỏi mọi khổ đau để đạt đến đại an lạc vĩnh cửu không thể đạt được bằng sự nỗ lực lỏng lẻo, hời hợt.

Hiện nay, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang giáng những đòn mạnh mẽ, chính là để thúc giục chúng ta mở toang cánh cửa Niết-bàn, con đường duy nhất của sự thực hành đưa đến an lạc tuyệt đối.

Nếu là những người có nền tảng ba-la-mật để đắc đạo quả trong kiếp này nhưng còn mải mê vui chơi quên mình, nếu không có người khuyên dạy dỗ dành như hoàng hậu Khemā, thì thế gian sẽ giáng những đòn đau đớn như trường hợp của bà Kisāgotamī hay Paṭācārā để đưa họ về đúng lộ trình. Giống như những học sinh có trí thông minh nhưng lười học bị thầy giáo đánh phạt vậy. Được thế gian "đánh" để tỉnh ngộ như thế vẫn còn là điều may mắn. Nếu không, họ sẽ mãi luân hồi từ nỗi khổ này sang nỗi khổ khác trong vòng sinh tử không dứt.

### Bình thường hay bất thường?

Vì vậy, tại trú xứ của hành giả, hễ gặp thêm một nấc khổ đau thì nên hiểu rằng mình sắp tiến thêm một nấc hạnh phúc.

Cái khổ thông thường là khi biết rõ thực phẩm không thích hợp nên phải tiết chế dẫn đến quá đói; hoặc cái khổ do nghiệp bất thiện xưa cũ tạo ra như việc không biết mà ăn nhầm, hay việc có ai đó cứ liên tục mang đến những thứ không hợp một cách dễ dàng khiến mình ăn phải mà không kịp đề phòng. Nếu chú ý thì sẽ nhận ra đó là nghịch cảnh; và thực tế việc hành trì sẽ giúp ta phân biệt được mức độ của sự cản trở đó. Dù là khổ đau hay hiểm họa nào cũng không lớn bằng nỗi khổ chốn ác đạo. Tất cả đều có thể vượt qua bằng sự nhẫn nại.

Có thể nói trong đội quân của Ma vương có hai loại: bình thường và bất thường. Ví dụ, việc nhìn thấy lợi lộc hay đối tượng khác giới (phụ nữ) mà nảy sinh lòng ham muốn đơn thuần là tâm tính vốn có của chúng sinh từ luân hồi vô thủy đến nay. Con người phải nỗ lực để vượt qua dục lạc đó. Đôi khi, những đối tượng ấy không xuất hiện một cách bình thường, mà được sắp đặt tinh vi theo từng bước để cưỡng ép mình phải tiếp nhận. Điều này có xảy ra, nhưng khó nhận biết và khó tránh khỏi. Cả hai loại này đều thuộc về đội quân đầu tiên của Ma vương là ‘Dục lạc’ (Kāma).

Các đội quân Ma khác như lười biếng, buồn ngủ, tự cao, ham danh tiếng... và những trở ngại khiến không thể vào thiền như bận rộn công việc, bệnh tật, v.v., cũng đều có hai loại:

## TRANG 312

bình thường hay bất thường. Việc phân biệt rõ ràng hai loại này là cần thiết. Dù tinh vi đến mức nào, điều quan trọng nhất vẫn là nỗ lực hành trì để vượt qua. Tuy nhiên, chỉ khi có hiểu biết đúng đắn thì mới có thể vượt qua một cách dễ dàng.

Ngài Sayadaw U Kyi cũng đã kinh nghiệm và vượt qua mọi nỗi khổ đau đa dạng như vậy một cách thiết thực (sandhiṭṭhika) như các đại đệ tử thời Đức Phật:

“**So’maṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttoiva candimā**.” (Giống như vầng trăng khi thoát khởi khỏi những tầng mây đen tối của hiểm nguy và chướng ngại, có thể soi sáng khắp thế gian), Ngài đã dùng ánh sáng giáo pháp thanh tịnh để xua tan màn đêm u tối, đem lại ánh sáng cho cuộc đời.

### Chiến thắng lợi dưỡng

Khi Ngài Sayadaw U Kyi trở nên nổi tiếng là một vị A-ra-hán, những người muốn đến cúng dường đông như trảy hội. Vì Ngài thọ hạnh đầu đà đắp y phấn tảo (paṃsukūla) nên rất nhiều người mang y đến đặt dọc đường cho Ngài nhặt. Số lượng y nhiều đến mức Ngài không thể dùng hết để thay đổi, nên Ngài chỉ cho phép các vị tỳ-kheo và sa-di đi theo đảnh lễ được nhặt lấy. Đối với các công trình xây dựng, Ngài cũng chỉ cho phép xây dựng những gì cần thiết. Tuyệt đối không nhận những thứ dư thừa.

Các bậc thiện trí thức vốn có rất ít ham muốn. Chính vì ít ham muốn mà họ trở thành bậc thiện trí thức.

Vì vậy, tại ngọn đồi Thè-pon-se-di chỉ có một ngôi bảo tháp, một ngôi nhà gạch nhỏ làm tăng xá, một hồ nước và một hang động nơi Ngài nhập thiền. Từ đồi Thè-pon-se-di nhìn ra, phía Đông là đồi Mhan-si và dòng sông Ayeyarwady; phía Đông Nam là thành phố Pakokku, Bagan Nyaung-U, núi Popa, núi Tant-kyi... tạo nên một khung cảnh vô cùng thanh bình. Vùng xung quanh đồi Thè-pon-se-di vốn là vùng đất thấp của biển và sông xưa kia nên địa hình nhấp nhô không bằng phẳng, trông như những con sóng.

Trên đường vào thị trấn có một nghĩa trang lớn, vốn là một nơi tu tập lý tưởng của Ngài. Từ hồi còn ở Pho-tho-taik, Ngài thường xuyên đến nghĩa trang này vào ban đêm cùng với một người bạn đạo tên là U Kevala. Ông U Kevala này thường sợ quá mà bỏ chạy trước khi trời sáng.

Khi Ngài đi bát, vì số người muốn cúng dường quá đông nên phải chia theo khu vực luân phiên. Dù vậy, lượng vật phẩm vẫn nhiều đến mức không thể tự mang hết, phải có người mang thúng lớn thúng nhỏ đi theo. Ngài chỉ giữ lại phần đủ dùng cho một người, còn lại đem bố thí hết. Về phương diện bốn món vật dụng, Ngài thực sự là một tấm gương đáng để noi theo. Những vật dụng như chùa chiền, y áo, vật thực, thuốc men nếu dư thừa quá mức cần thiết đối với các bậc thiện trí...