## TRANG 316

Sự giải đãi trong tu tập, ưa thích vật dụng tứ sự cao sang, tự mình đi khất thực để nuôi thân v.v... những nếp hạnh cao quý của các bậc thánh tương lai bị mai một, thay vào đó là lối sống hưởng thụ như hàng tại gia, giao du hỗn tạp với phụ nữ và các hạng người khác.

(4) Ngoài ra, trong bộ **Nidāna-vagga Saṃyutta** thuộc Tạng Luật, có lời huyền ký dự ngôn rất rõ ràng về tình trạng giáo pháp trong tương lai. Qua **Kinh Āṇi**, Đức Thế Tôn đã thuyết về tình trạng của Pháp bảo, và qua **Kinh Kaliṅgara**, Ngài đã chỉ ra tình trạng của hàng tăng lữ trong thời vị lai. Ý nghĩa của **Kinh Āṇi** là:

(5) Thuở xưa, các vị hoàng tử xứ Dasāra có một chiếc trống báu gọi là **Āṇaka**. Tiếng trống ấy có thể vang xa đến mười hai do mục (yojana). Theo thời gian, chiếc trống bị nứt và người ta cứ liên tục vá đi đắp lại nhiều lần. Cuối cùng, phần thân trống nguyên bản không còn nữa mà chỉ toàn là những mảnh vá víu. Kết quả là tiếng trống không còn vang xa mười hai do mục như trước, mà ngay cả ở trong cùng một nhà nghỉ (sala), người ta cũng chỉ nghe thấy tiếng kêu trầm đục, yếu ớt.

Tương tự như ví dụ đó, vào thời vị lai, người ta sẽ không còn tâm mến mộ lắng nghe, ghi nhớ hay học hỏi giáo pháp nguyên bản của Đức Phật và các bậc thánh đệ tử. Thay vào đó, họ chỉ chú trọng lắng nghe và tìm học những lời lẽ thế gian bóng bẩy, những văn bản bị thêm thắt, cắt xén, bóp méo ý nghĩa theo ý riêng, hay những bài kinh tân thời, những tư tưởng giáo lý mới lạ và kỳ xảo. Khi ấy, cũng như chiếc trống **Āṇaka**, những phần giáo pháp giả tạo, vay mượn và rỗng tuếch sẽ lan rộng, còn giáo pháp chân thực sẽ bị tiêu trầm. (Xem **Kinh Āṇi**, **Nidāna-457**; và **Tika Nipāta**, **Tiền thân Kakkaṭa-310**.)

Về tình trạng hàng tăng lữ thời vị lai, trong **Kinh Kaliṅgara** có dạy rằng:

“Này các vị hoàng tử xứ Licchavī, khi các vị còn nỗ lực rèn luyện, lấy khúc gỗ làm gối kê đầu, thì vua Ajātasattu (A-xà-thế) không có cơ hội hại được. Nhưng thời gian sau, các vị ấy sẽ trở nên mềm yếu tay chân, ngủ trên giường nệm êm ái, kê đầu trên gối bông cho đến khi mặt trời mọc.” Khi ấy, vua Ajātasattu sẽ có cơ hội thực hiện tâm đồ.

“Cũng vậy, hiện nay các vị Tỳ-kheo đang tinh tấn, không phóng dật, có chánh niệm, lấy khúc gỗ làm gối nên Ma vương không tìm được sơ hở. Nhưng trong tương lai, các vị Tỳ-kheo sẽ có tay chân mềm yếu,

## TRANG 317

ngủ nghỉ nơi giường nệm êm ấm, kê gối bông mịn màng cho đến khi nắng lên. Lúc đó, Ma vương sẽ có cơ hội xâm nhập.” Qua đây, Đức Phật muốn dạy rằng khi các vị Tỳ-kheo yếu kém về định, niệm và tinh tấn, thì chẳng khác nào đang đưa tay mời gọi quân đoàn Ma vương đến, và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của giáo pháp.

(6) Cũng trong bộ **Nidāna-vagga Saṃyutta (422)**, Đức Thế Tôn đã thuyết về sự suy tàn của giáo pháp do sự nguy hại của pháp giả mạo (tương tự pháp), điều này càng đáng để ghi nhớ hơn. Bản kinh này có tên là **Kinh Saddhammapatirūpaka** (Kinh Diệu pháp tương tự). Ngài Mahākassapa (Đại Ca-diếp) đã bạch hỏi Đức Thế Tôn và Ngài đã thuyết dạy như sau:

Ngài Mahākassapa bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, thuở trước giới bổn (Vinaya) tuy ít nhưng các bậc chứng đắc thánh quả lại rất nhiều. Ngày nay giới bổn đã trở nên nhiều hơn, nhưng tại sao số người đắc đạo quả lại ít đi như vậy?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Này Kassapa, khi tuổi thọ con người ngắn lại và giáo pháp sắp tàn thì chuyện đó là điều tất yếu. Giống như vàng thật chưa biến mất chừng nào vàng giả chưa xuất hiện (giá trị không giảm), giáo pháp chân thực cũng không bị mất đi cho đến khi pháp giả mạo xuất hiện. Thật vậy, ngay cả những đại tố như đất, nước, gió, lửa – những nguồn năng lượng lớn lao nhất có thể hủy diệt cả thế gian cho đến tầng trời **Vehapphala** (Quảng Quả) – cũng không thể làm cho giáo pháp này suy tàn hay biến mất. (Hàng ngoại đạo dị giáo lại càng không thể làm được. Chú giải 1).

Kẻ rỗng tuếch sẽ hủy hoại giáo pháp này (như gỉ sắt ăn mòn sắt. Chú giải) chính là những người đang ở ngay trong giáo đoàn này. Sự suy tàn của giáo pháp không phải do giới luật quá nhiều (giống như con thuyền chở đầy hàng hóa bị chìm vì quá tải), mà chính vì sự thiếu tôn kính và phục tùng đối với Tam Bảo, đối với Giới, và đối với Định pháp, nên tuổi thọ của giáo pháp bị rút ngắn và dẫn đến tiêu vong.”

Đó là ý nghĩa tóm lược của bản kinh trên.

Bậc thầy Chú giải đã giải thích thêm rằng các tác phẩm giả mạo như **Zimmē Paṇṇāsa** (Chiêm Mai Bản Sinh), **Lalitavistara** (Phổ Diệu Kinh) v.v... là nguyên nhân làm tiêu vong phần Pháp học (Pariyatti). Đồng thời, mười thứ phiền não của Minh sát (Vipassanupakkilesa) như hỷ (pīti), khinh an (passaddhi) v.v... nếu bị lầm tưởng là Đạo, Quả, Niết-bàn trong quá trình hành thiền, thì sẽ là nguyên nhân làm tiêu vong phần Pháp hành (Paṭipatti) chân thực.

Đây là những dẫn chứng được trích lục từ Tam Tạng.

## TRANG 318

Trong phần **Phussa Theragāthā** (Trưởng lão tăng kệ) thuộc Tạng Kinh, Ngài Trưởng lão **Phussa** cũng đã thuyết tóm lược về những nguyên nhân khiến giáo pháp suy tàn. Ngài Mân-lည် (Mānlal) Sayadaw cũng đã từng dùng bản dịch diễn nghĩa này để đánh thức tâm thức của hàng hành giả Việt Nam (đối với phần Pháp hành).

Đức Thế Tôn đã nhiều lần thuyết dạy rằng sự thiếu tôn kính đối với Tam Bảo là nguyên nhân lớn lao dẫn đến sự suy tàn giáo pháp. Chúng ta cần chú ý trong việc tôn thờ, sử dụng hình tượng Phật tại các bảo tháp, điện thờ; trong cách nghe pháp (kể cả nghe qua máy ghi âm), thảo luận pháp; trong việc gìn giữ và nâng niu kinh sách; cũng như trong các cử chỉ, lời nói khi gặp gỡ tiếp xúc với chư Tăng. Cần đặc biệt cẩn trọng để việc thờ phụng không trở thành hành động phá hoại ngầm. Hãy luôn quán xét rằng nếu đang đứng trước bậc Đạo Sư lúc Ngài còn tại thế thì mình nên hành xử như thế nào, rồi theo đó mà thực hành. Ở đây không dẫn lại lời giải thích của các bậc thầy Chú giải nữa.

### LỜI CẢNH TỈNH CHO NHỮNG NGƯỜI MUỐN HOẰNG PHÁP THEO LỐI TÂN THỜ

Nếu tóm lược những lời dạy về nguyên nhân suy tàn giáo pháp ở nhiều nơi, ta thấy rằng kẻ phá hoại giáo pháp không nằm ở thế giới bên ngoài hay ở các tôn giáo khác. Đừng vội chỉ tay về phía họ. “Dòi sinh ra từ trong thịt, gỉ sắt ăn mòn sắt”, chúng ta phải thấy rằng người phá hoại giáo pháp chính là những đứa con của Đức Phật – hàng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và chính bản thân chúng ta. Hãy đứng trước tấm gương giáo pháp chân thực này để nhận diện ra “tội đồ”.

Trải qua nhiều thời đại, người ta đã lầm lạc khi đổ lỗi cho ngoại đạo, cho các trường học thế gian, hay cho khoa học v.v... Từ việc tìm sai nguyên nhân đó, họ lại tiếp tục gánh lấy nỗi ưu phiền (domanassa).

Để cứu vãn giáo pháp đang suy giảm, họ lại nỗ lực dốc sức học tập các ngôn ngữ thế gian (bā-santara) để chạy theo thời đại. Họ không dùng con thuyền giáo pháp của chính mình để theo kịp dòng chảy, mà lại để bản thân mình lún sâu đến ngang hông giữa dòng đời đầy rẫy những quan điểm tà vầy.

Lấy cớ là “không có học tăng tham dự”, họ mượn danh nghĩa giáo dục tân thời để cố gắng cứu vớt người khác. Nhưng do dựa dẫm sai lầm vào các “đội cứu trợ”, họ lại vô tình dấn thân vào những gánh nặng xã hội. Từ chỗ tìm sai nguyên nhân, trong khi định cứu vớt người khác thì chính mình lại lún sâu đến tận cổ. Dù vậy, họ vẫn không nhận ra để lùi bước, lòng bi mẫn muốn hoằng pháp cứ tiếp tục thúc đẩy họ tiến tới, và rồi họ lại lôi kéo thêm những người khác cùng đi theo con đường đó.
