## TRANG 322

### Hai bậc đạo hạnh đắc Thiền và Thần thông trên núi Dezunpa

(Trình bày theo lời giảng của cư sĩ Anāgāmi Sayagyi Thet.)

Vào một đêm Rằm tháng Tạng-hỗng (Tazaungmon) độ lúc canh đầu. Từ trên không trung, có hai vị Tỳ-khưu sử dụng thần thông chuyển di thánh thể đáp xuống sân đại bảo tháp Mahācetiya tại Pegu. Sau khi lễ bái bảo tháp, hai Ngài cùng nhau rảo bước về phía giới đàn Kalyāṇī.

Xét về độ tuổi, cả hai vị đều đã ngoài năm mươi, xấp xỉ bằng nhau. Lúc bấy giờ mặt trời vừa khuất dạng, ánh trăng đang độ sáng ngời, hai vị cùng tiến bước vào trong giới đàn Kalyāṇī. Một lát sau, các Ngài trở ra. Theo truyền thống giới luật của bậc xuất gia, hai Ngài đến đây để thực hiện nghi thức Uposatha (Bố-tát). Khi đến đồi Shwethalyaung, hai Ngài lại theo đường hư không, bay thẳng về hướng chính Bắc. Dưới ánh trăng thanh của đêm Rằm tháng Tazaungmon, bất cứ ai hữu duyên chiêm bái được cảnh tượng ấy đều xem đó là một đại phúc lành **Dassanānuttariya** (Kiến vô thượng) – một hình ảnh không thể nào quên trong suốt cuộc đời.

Khi về đến núi Dezunpa, hai vị Tỳ-khưu đáp xuống hai ngọn núi riêng biệt. Dù đã hẹn nhau cùng đi nhưng hai Ngài ít khi trò chuyện, mỗi người đều giữ tâm chánh niệm vào đề mục hành trì của mình. Dẫu đã đắc Thần thông (Abhiññā) nhưng vì chưa chứng đạt các tầng thánh quả, hai Ngài tận dụng mọi thời gian, không ngủ không nghỉ để hành thiền quán tưởng. Vì công phu tu tập cốt yếu chưa hoàn tất, các Ngài luôn ẩn giấu thần lực của mình một cách đặc biệt. Hai vị luôn khắc ghi trong tâm rằng: Thần thông đạt được trong thân phận phàm phu (Puthujjana) vốn còn đầy rẫy tham, sân, mạn, có thể quay lại làm hại chính chủ nhân của nó.

Thật vậy! Việc Tỳ-khưu Devadatta đọa vào địa ngục Avīci (A-tỳ), thần thông chính là một trong những nguyên nhân tác động. (Vinaya, Cūḷavagga-366; Itivuttaka-253). Thế nên, hai Ngài càng nỗ lực tinh tấn, xả thân cầu đạo hơn cả những hành giả thông thường. Những người thiếu tốn căn lành ba-la-mật và kiến thức Pháp học (Pariyatti), nếu có được dù chỉ một phần trăm thần lực của các Ngài, hẳn đã tự xưng là bậc thầy đại đạo; nhưng với hai vị đại đức này, việc có được thần thông chỉ khiến các Ngài thêm kinh sợ và nỗ lực tìm kiếm con đường thoát ly thế gian thật sự, không quản ngày đêm.

Dưới sự nỗ lực không ngừng nghỉ khi cùng nhau tu tập—

“Này Hiền giả... Sau khi đắc Thần thông, để chứng đạt Đạo và Quả,

## TRANG 323

chúng ta đã cùng thảo luận và nỗ lực tinh tấn không lùi bước suốt hơn một năm ròng. Kể từ hôm nay, chúng ta hãy tạm chia tay, Hiền giả hãy ở lại ngọn núi này, còn tôi sẽ chuyển sang ngọn núi phía bên kia. Chỉ khi có việc thật sự quan trọng, nếu là ban ngày thì đánh mõ, nếu là ban đêm thì thắp lửa để ra hiệu.” Khi vị Trưởng lão dạy như vậy—

“Lành thay bạch Ngài, đã được gặp giáo pháp này, lại có kiến thức Pháp học mà vẫn còn mang thân phận phàm phu để rồi phải trở thành những vị Phạm thiên sống thọ khôn cùng thì thật là điều đáng sợ.” Vị Tỳ-khưu nhỏ tuổi hơn cung kính đáp lời. Sau khi giao ước như vậy, hai Ngài ở tại hai ngọn núi khác nhau trong dãy Dezunpa để tu hành. Suốt hai ba tháng ròng, ngoại trừ những khi cùng hành lễ Bố-tát, hai Ngài không hề ra hiệu hay thảo luận gì thêm.

### Vị Thiên nữ hộ pháp thiện lành

Vào khoảng quá nửa đêm nọ, trên ngọn núi nơi vị Trưởng lão cư ngụ, một mùi hương thơm ngát tỏa khắp cả vùng. Lúc ấy, vị Trưởng lão đang thực hành pháp đầu đà **Abbhokāsika** (ở ngoài trời), Ngài đang đi kinh hành và nỗ lực hành trì trên một bãi đất trống nơi đỉnh núi. Bỗng nhiên, có một vị Đại Thiên, thân tướng hào quang rực rỡ, đứng cung kính chắp tay đảnh lễ vị Trưởng lão và thưa rằng:

“Bạch Ngài, vì ngưỡng mộ đức tin (Saddhā) và sự tinh tấn (Viriya) rộng lớn của Ngài nên con tìm đến đây. Hiện nay, dẫu Ngài thông tuệ kinh điển, đầy đủ đức tin và sự tinh tấn, nhưng công phu thực hành (Paṭipatti) vẫn chưa trọn vẹn. Nếu nương nhờ được bậc thiện tri thức, Ngài đã có đủ nền tảng để sớm chứng đạt Pháp đặc biệt. Nếu cứ tiếp tục nỗ lực như thế này, việc chứng đắc như mục tiêu các Ngài mong đợi là điều không dễ dàng. Ngài cần phải đi đến một nơi khác.”

Vị Trưởng lão vẫn giữ phong thái uy nghiêm lắng nghe, nhưng khi thấy những lời lẽ thưa thỉnh ngày càng mang tính quyết đoán, Ngài liền hỏi với giọng khá cứng rắn: “Ngươi là ai?”. “Con chính là vị đại thiên hộ trì núi Dezunpa này,” vị ấy thưa. “Sao vậy, ngươi không muốn ta ở trên ngọn núi của ngươi nữa hay sao?” vị Trưởng lão hỏi tiếp.

“Bạch Ngài, không phải vậy, chẳng phải con vẫn luôn hộ trì các Ngài đó sao? Dẫu các Ngài đã buông xả được sự kiêu mạn về thần thông và học vấn, nhưng các Ngài có nhận ra rằng những mầm mống ngã mạn vi tế (Mānānusaya) vẫn đang âm thầm ngăn trở hay không?” Khi vị thiên nghe vậy, vị Trưởng lão thở dài một tiếng rồi im lặng, vị thiên thủ hộ núi liền tiếp tục thưa:

“Việc tìm được bậc minh sư là điều quan trọng nhất trong công phu này. Xin Ngài hãy vững tin mà khởi hành đến địa điểm con chỉ dẫn.”

“Được rồi, vậy ta phải đi đâu?”

## TRANG 324

“Vì lợi ích của Ngài, hôm nay xin Ngài hãy đi về hướng chính Nam. Có một ngôi làng tên là Pyawbwe-gyi thuộc vùng Dala, huyện Twante. Ở đó có một vị cư sĩ hướng dẫn thiền tập. Xin Ngài đừng xem thường. Các Ngài cũng hãy dùng thần thông của mình mà quán xét vị ấy.” Nói đoạn, vị thiên liền biến mất.

Vị thiền sư ấy không ai khác chính là Sayagyi Thet, người thường được tôn xưng là bậc Anāgāmi (A-na-hàm). Ông là đệ tử của các bậc danh đức như Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw, Ngài Sayadaw núi Thayjet và Ngài Sayadaw Inma-gyi núi Theim. Chính Ngài Ledi Sayadaw đã trực tiếp trao truyền pháp hành, kiểm chứng tâm đắc và vì rất hài lòng nên đã đặc biệt khuyến khích và tán dương ông đảm nhiệm vai trò thiền sư chỉ dạy giáo pháp. Ông là một bậc phi thường đã trực tiếp hướng dẫn thiền cho hơn sáu ngàn đệ tử gồm cả tăng mẫu lẫn cư sĩ. (Xin mời quý vị đọc chi tiết hơn trong cuốn sách về “Sayagyi Thet-gyi” để tăng trưởng lòng tín tâm).

Sau khi vị thiên thủ hộ núi biến mất, vị Trưởng lão suy ngẫm một lát rồi nảy ra một ý định, Ngài liền đốt lửa. Theo lời hẹn “nếu có việc đặc biệt thì báo cho nhau biết”, Ngài định ra hiệu cho vị Tỳ-khưu ở ngọn núi bên kia. Tuy nhiên, vị Tỳ-khưu ấy lại không để ý đến ánh lửa từ phía núi đối diện. Cùng lúc đó, khi Ngài đang thực hành pháp đầu đà Rukkhamūla (ở dưới gốc cây) trên đỉnh núi và đang trú tâm hành thiền, Ngài cũng gặp phải chuyện có người đến trò chuyện với mình dù không nhìn thấy hình dáng. Không có điều gì khác lạ, vị ấy chỉ khuyên Ngài nên tiếp tục nỗ lực hành trì theo phương pháp cũ. “Bạch Ngài, xin đừng thay đổi ý định. Hãy đi, nhất định phải đi. Con là vị thiên thủ hộ vẫn luôn giúp đỡ và bảo vệ các Ngài.” Nói đoạn, tiếng nói liền biến mất. (Trong kinh Tương Ưng Thiên Tử - Devatā Saṃyutta và các kinh khác, có rất nhiều tích truyện về việc chư Thiên hỗ trợ hành giả).

Lời lẽ của vị Thiên khi thì mềm mỏng, lúc lại cương quyết khiến vị Tỳ-khưu trẻ trăn trở khôn nguôi. Những lời cảnh tỉnh về các phiền não vi tế như Ngã mạn tùy miên (Mānānusaya) đang ngăn trở công phu khiến Ngài không khỏi giật mình kinh hãi. Vị Tỳ-khưu trẻ gật đầu đồng ý một mình, rồi đứng dậy đốt lửa để ra hiệu cho vị Trưởng lão. Nhưng vị Trưởng lão cũng không nhìn thấy ánh lửa hiệu ấy.

Lý do là vì vị Trưởng lão không đợi vị Tỳ-khưu trẻ đến nữa, do thấy việc quá khẩn cấp nên Ngài đã khoác y mang bát, đeo tấm da thú lên vai và tự mình xuống núi để sang báo tin. Vị Tỳ-khưu trẻ sau khi đốt lửa ra hiệu, cũng theo trách nhiệm của mình mà xuống núi để thưa chuyện với vị Trưởng lão. Lúc này bình minh đã ló rạng. Đang giữa mùa đông nên khắp dãy Yoma chìm trong sương mù dày đặc. Mang theo những ý định riêng tư, hai Ngài cùng bước đi và tình cờ gặp nhau tại một bãi đất bằng phẳng dưới chân núi giữa làn sương mịt mù.

Khi vừa gặp nhau, cả hai đều vô cùng kinh ngạc. Hai Ngài trải tấm da thú xuống một bãi đất trống, cùng ngồi xuống và bắt đầu thảo luận về những sự việc đã xảy ra.
