## TRANG 328

được trọn vẹn và thực sự thoát khỏi cõi khổ, nên Ngài đã chỉ dạy đó là điều tốt đẹp nhất.

### Chuyển sang Vipassanā tại làng Tan Phò Pè (Tန်ဖိုးပယ်)

“Nếu là người cư sĩ có ngũ giới, bát giới (ājīvaṭṭhamaka sīla), nếu là bậc xuất gia có tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhi sīla) thì sẽ đem lại lợi ích và năng lực to lớn đến mức nào, đức Thế Tôn đã nhìn thấy rõ bằng Nhất Thiết Chủng Trí. Vì vậy, ngày hôm nay khi chuyển sang thực hành Vipassanā, chúng ta cần quán xét rằng: trong thế gian này, những thứ mà phàm phu bản tính vốn hay đắm say chấp chước như thần lực của học thuật, thần lực của tiền bạc, thần lực của quyền uy hay thần lực của thần thông (abhiññā), tất cả chúng đều chỉ là Khổ Đế (Dukkha Sacca) mà thôi, đúng như câu nói: ‘Ở cõi Phạm thiên thì sáng rực rỡ, nhưng ở máng lợn thì nhớp nhúa’.

“Cần phải có niềm tin sâu sắc rằng: ‘Ta sẽ thấy được bốn Thánh Đế đúng như thật và chắc chắn sẽ đạt được hạnh phúc Niết-bàn chân thực’. Với tâm niệm sắp thoát khỏi mọi nỗi khổ, hãy hạ bản ngã (māna) xuống. Hãy giữ cho tâm thật mềm mại. Mọi cử chỉ của thân và lời nói đều phải trở nên nhẹ nhàng, tinh tế.

“Hãy thực hiện các bước chuẩn bị (parikamma) như thường lệ, rồi tại đầu mũi, hãy quan sát luồng hơi thở ra vào đang sanh diệt liên tục, thấy rõ bản chất vô thường (anicca) của nó. Nếu có thể quán chiếu thấy rõ sự sanh rồi diệt, diệt rồi lại sanh như vậy, thì pháp hành Ānāpāna (Niệm hơi thở) sẽ chuyển từ định (Samatha) sang tuệ (Vipassanā).

“Có một số người vội vàng chỉ trích rằng: ‘Ôi, Ānāpāna chỉ là định thôi mà’. Không phải vậy đâu. Đó là một đề mục thiền (kammaṭṭhāna) toàn diện. Đó là con đường xưa mà chư Phật đều đi qua. Trong kinh Ānāpānassati, đức Phật dạy trực tiếp rằng Ānāpāna chính là Vipassanā qua các cụm từ: ‘**Aniccānupassī** = phải quán thấy rõ bản chất không bền vững (vô thường). **Virāgānupassī** = phải quán để ly tham đắm’. Bậc ân sư Ledi Sayadaw vĩ đại cũng đã viết rõ rằng: trước tiên hãy thiết lập Ānāpāna như một pháp định, rồi từ sơ thiền, nhị thiền hay tam thiền, có thể vượt bước để chuyển sang hành Vipassanā ngay trên chính đề mục Ānāpāna này.

“Tuy nhiên, theo lời chỉ dạy của các bậc ân sư, sau khi quán chiếu để thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của hơi thở ra vào trong khoảng mười đến mười lăm phút, hãy đặt tâm tại đỉnh đầu, tập trung quán sát. Tại vùng diện tích khoảng bằng đồng xu, hãy bắt giữ cho được đặc tính của các sắc pháp (rūpa-dhātu) như: Tejo-dhātu (Hỏa đại) với tính nóng hoặc lạnh, Paṭhavī-dhātu (Địa đại) với tính cứng hoặc mềm. Quý vị sẽ thấy bằng mắt tuệ sự chuyển động rung động (lhup-lhup), lăn tăn (ru-ywa-ywa), tan rã (hpwa-hpwa) hay nổ lách tách (hpyit-hpyit), rồi dần dần lan rộng ra khắp toàn thân, thấy rõ sự sanh - diệt - diệt tận - tan biến. Sắc pháp không đi đâu cả, và danh pháp (nāma) cũng không được chạy trước đón đầu.

## TRANG 329

Cần phải theo sát và ghi nhận sự lan tỏa dần dần đó. Khi xúc trần (phoṭṭhabba-dhātu) và thân căn (kāya-pasāda) tiếp xúc với nhau, danh pháp (tâm ghi nhận) sẽ luôn biết rõ sự sanh diệt đó. Cả sắc pháp bị chạm và danh pháp hay biết đều sanh rồi diệt ngay tại đó, không hề xê dịch dù chỉ bằng một đầu kim. Ngay trong hơi thở ra vào, nếu muốn ghi nhận các đại hiển (Paṭhavī...) cũng có thể ghi nhận được.” (Quay sang phía chư Tăng, cụ hỏi:) “Bạch chư Đại đức, thực hành ghi nhận như vậy có thấy rõ không ạ?” Hai vị trưởng lão vùng Day-sun-par trả lời cụ rằng các ngài đã thấy rõ ngay lúc này.

“Lành thay! Tôi rất hoan hỷ khi nghe được điều này. Bạch chư Tăng, theo như trong các bộ luận Abhidhamma (A-tỳ-đàm), không nhất thiết phải biết hết tất cả các loại sắc pháp. Giáo lý Abhidhamma thuộc về phạm vi của Nhất Thiết Chủng Trí và bậc **Paṭisambhidāpatta** (đạt được Tuệ Phân Tích). Chỉ cần mắt tuệ nhìn thấy rõ ràng bản chất vô thường, khổ, vô ngã của một đơn vị sắc, một đơn vị danh, là có thể đạt đến trạng thái an tịnh của Niết-bàn vô vi (Asankhata). Bậc ân sư Ledi Sayadaw vĩ đại cũng đã dạy và viết đúng như thế.

“Đặc biệt, điều quan trọng cần lưu ý là hãy tạm gác lại những kiến thức pháp học (pariyatti), những hiểu biết do suy tư (cintāmaya) hay do nghe (sutamaya) đã học được từ nơi khác hay lúc khác. Thực hành theo cách này, những người dù không biết chữ, chỉ sau một đến hai tuần đều thấy kết quả rất hài lòng.

“Vì vậy, tôi không ngớt lòng thành kính trước Nhất Thiết Chủng Trí, bởi trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), Ngài đã mạnh dạn cam kết về thời gian đạt quả vị. Khi tất cả hành giả làm việc, giống như người bắn súng hay bắn cung phải nhe một mắt để nhắm, thì tâm phải đặt vào duy nhất một cảnh này thôi. Hãy cắt đứt mọi sự quyến luyến, không màng đến thân mạng, nỗ lực hết mình để hành trì.”

Bài pháp buổi sáng kết thúc. Mọi người đồng thanh “Sādhu”.

### Ba loại phước báu, Ba giai đoạn giáo pháp, Năm loại đoạn trừ

Sau ba bốn ngày chuyển sang hành Vipassanā, cụ cư sĩ kiểm tra việc hành thiền và thuyết giảng với vẻ hân hoan, phấn chấn. Có lúc cụ vừa giảng vừa vỗ tay cổ vũ. Cụ cũng chắp tay hướng về phía nơi bậc ân sư Ledi Sayadaw đang hiện diện (trong tâm tưởng).

“Hôm nay tôi sẽ giảng cho các hành giả về Giới, Định, Tuệ. Bạch chư Đại đức, nếu tôi có nói gì sai, xin các ngài sửa dạy cho. Giới, Định, Tuệ ở đây chính là nói về ba loại phước báu: Dục giới thiện (Kāmāvacara kusala), Đáo đại thiện (Mahaggata kusala) và Siêu thế thiện (Lokuttara kusala). Cần phải biết sự khác biệt giữa cái thô và cái tinh tế để thấy rõ giá trị của chính mình.

## TRANG 330

“Khởi đầu của Giáo hóa Thần thông (Anusāsanī Pāṭihāriya)

1. Khi thiết lập được Giới giáo pháp (Sīla Sāsanā), thì các phiền não (kilesa) trong tương lai đã bị đẩy lùi một phần đáng kể. Thân và khẩu đã được thu thúc. Hố sâu của các hành vi vi phạm (vītikkama) đã được lấp bằng ‘**Tadanga-pahāna**’ (Đoạn trừ từng phần). Đây chính là Dục giới thiện.

2. Với thiền định (jhāna-samādhi), còn được gọi là Sắc giới và Vô sắc giới thiện, thì không chỉ các hành vi vi phạm bên ngoài mà ngay cả những phiền não sắp khởi lên trong tâm (pariyuṭṭhāna - triền cái) cũng không được phép xâm nhập. Đó là việc dùng nắp đậy khổng lồ của ‘**Vikkhambhana-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách đè nén) để lấp hố sâu của phiền não khởi phát. Khi thiết lập được Định giáo pháp (Samādhi Sāsanā), chứng đắc các thiền định và thần thông, nếu mệnh chung khi đó sẽ sanh về cõi Sắc và Vô sắc làm các vị Phạm thiên phàm phu. Tuy nhiên, năng lực của Đáo đại thiện này không tận gốc, chỉ là đẩy lùi tạm thời nên không bền vững. Khi gặp cảnh nghịch lòng, thì không chỉ hố sâu của ý nghiệp (pariyuṭṭhāna) mà cả hố sâu của thân nghiệp, khẩu nghiệp (vītikkama) cũng sẽ bị phiền não tràn ngập trở lại như cũ. Hãy nhìn gương các vị tu sĩ tu tập thiền định nhưng rồi lại hoàn tục kết hôn.

3. Như vậy, ngay cả thần lực của định (samādhi) xây dựng trên nền tảng giới trong giáo pháp này còn dễ bị thoái thất như thế, thì những loại năng lực định thế gian (lokāyata) có được bằng một kỹ thuật nào đó (sippa) mà thiếu đi giới hạnh và lòng từ thực thụ, sẽ gây ra biết bao đau khổ cho chúng sanh. Giống như trái tre làm chết cây tre, thứ thần lực đó có thể sát hại chính người sở hữu nó. Vì vậy, không nên hài lòng chỉ với Đáo đại thiện của Định giáo pháp này; mối nguy hiểm vẫn còn rất lớn.

4. Trong lúc gặp gỡ được Giáo pháp như hiện nay, phải hướng tới tu tập Siêu thế thiện mới có thể yên tâm cho vòng luân hồi (samsāra). Đây chính là Tuệ giáo pháp (Paññā Sāsanā). Chỉ có Đạo tuệ (Magga-paññā) này mới có thể lấp hố sâu của phiền não ngủ ngầm (anusaya-kilesa) đã tích lũy từ vô lượng kiếp bằng ‘**Samuccheda-pahāna**’ (Sát trừ tuyệt căn), không còn đường quay trở lại.

5. Quả tuệ (Phala-paññā) lại tiếp tục làm an tịnh, dập tắt các phiền não bằng ‘**Paṭippassaddhi-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách an tịnh hóa), khiến cho ngay cả hơi hướm của phiền não ngủ ngầm cũng không thể thoát ra.

“Khi đó, vì đã đạt đến Thánh vị, chứng đắc các Đạo Quả, nên hạnh phúc Niết-bàn tối thượng cũng bao phủ lấy hành giả bằng ‘**Nissaraṇa-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách giải thoát hoàn toàn), khiến cho phiền não chẳng bao giờ có thể đến gần vị đó được nữa. Đó là một hạnh phúc vô song, vô cùng an lạc. Vì thế nên...