## TRANG 331

Đức Thế Tôn trong kinh **Pháp Cú (Dhammapada)** đã dạy rằng: đừng vội tự mãn với giới hạnh, cũng đừng vội dừng chân nghỉ ngơi chỉ với định lực (samādhi).

### Không cần chi tiết hóa theo danh tự kinh điển

Quay sang phía chư Tăng, ngài cung kính chắp tay thưa: "Bạch các bậc Hiền giả, có đúng như vậy không?" Ngài khuyến tấn hành giả phải quán chiếu để đạt đến bản chất Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta) của từng trạng thái Sắc pháp và Danh pháp, rồi tạm dừng lời một lát.

"Khi tu tập thiền Chỉ (Samatha), sự thành tựu năm thiền chi được gọi là Sơ thiền. Thầy có dạy rằng phải chú ý để hiện khởi **Tầm (Vitakka)**, **Tứ (Vicāra)**, **Hỷ (Pīti)**, **Lạc (Sukha)**, **Nhất tâm (Ekaggatā)** không? (Các hành giả đáp: Dạ không). Đúng vậy – đó là tên gọi do các bậc thầy thông thạo kinh điển đặt cho thôi. Ngay cả năm Triền cái cũng không cần phải học thuộc lòng, vì trong khi quán chiếu, chúng sẽ tự động lìa xa. Phận sự của hành giả chỉ là theo sát hơi thở ra vào không để rời lạt, đúng không nào? Từ Sơ thiền chuyển sang Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là quá trình tự tiến triển. Đó không phải là thứ có thể đạt được bằng cách học thuộc lòng trước.

“Trong phần thiền Quán (Vipassanā) hiện nay cũng tương tự như vậy. Đừng lầm tưởng rằng phải thông suốt, phải thuộc lòng tất cả những chi tiết thuộc về Pháp học (Pariyatti) hay Phân tích đạo (Paṭisambhidā) như năm uẩn (khandha), mười hai xứ (āyatana), mười tám giới (dhātu), năm mươi ba danh pháp (nāma-tepaññāsa), hai mươi tám sắc pháp (rūpa-aṭṭhavīsa) thì mới đạt được tuệ Quán. Chỉ cần làm chủ được một Sắc pháp, một Danh pháp thì mười bậc Tuệ giác (ñāṇa) sẽ tự hiển lộ. Không phải là ta phải 'làm' cho tuệ này xong rồi mới đến tuệ kia. Giống như mặt trời mọc rồi tất yếu phải lặn ở phương Tây, hay như đi tàu hỏa từ Yangon đến Mandalay, dù biết hay không biết các nhà ga trung gian, bạn vẫn sẽ tự nhiên gặp và vượt qua chúng. Nếu chưa đến mà lại cố dùng tâm suy diễn để đạt đến, thì đó không phải là tuệ do Tu hành (Bhāvanā-maya); trái lại, nếu không buông bỏ những kiến thức Pháp học đã nghe, đã biết, chúng sẽ giống như một sợi dây kéo ghì trí tuệ hành trì của ta lại.

Những tên gọi như Tuệ này Tuệ nọ là do các bậc Hiền giả thông thạo Pháp học đặt danh tự; còn hành giả chỉ việc đi đúng lộ trình, lên đúng chuyến tàu và đừng để lỡ chuyến. Khi định lực đã thành hình, trí tuệ Thấy biết như thật (Yathābhūta-ñāṇa) sẽ tự đến mà không cần mong cầu, mong đợi hay chờ chắt; chân lý Tứ Thánh Đế sẽ tự hiện bày, các bậc Tuệ giác sẽ tự tiến triển. Một khi nền tảng Giới hạnh (Sīla) đã vững chắc thì **Bất hối (Avippaṭisāra)**, **Hân hoan (Pāmojja)**, **Hỷ (Pīti)**, **Khinh an (Passaddhi)**, **Lạc (Sukha)**, **Định (Samādhi)**, **Như thực tri kiến tuệ (Yathābhūta-ñāṇa)**, **Yểm ly tuệ (Nibbidā-ñāṇa)**, **Giải thoát tuệ (Vimutti-ñāṇa)** sẽ tự động tuôn chảy liên tục như được khơi mở dòng kênh vậy.

“Trong các kinh thuộc **Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)** như **Kinh Ce-ta-na-ka-ra-ni-ya (Cetanākaraṇīya Sutta)**, **Kinh Ba-va-na (Bhāvanā Sutta)**,

## TRANG 332

Đức Phật đã dạy đúng như vậy. Do đó, sau khi đã thiết lập vững chắc nền tảng Giới giáo (Sīla-sāsanā) và các thiện nghiệp cõi Dục (kāmāvacara-kusala), tôi tha thiết khuyến tấn các quý vị hãy nỗ lực quán chiếu không ngừng nghỉ để đạt đến thiện nghiệp Đạo tuệ (Magga-kusala) – cứu cánh an toàn nhất.” (Tất cả đồng thanh sa-thủ).

### Cúng dường pháp bảo bằng ngọc Ý Thuận

Sau khi hai vị trưởng lão từ vùng Desunpa lưu lại chỗ Thiền sư được khoảng mười ngày, vào một buổi chiều nọ, họ đặc biệt mời ngài đến tại chánh điện (Dhamma-yone) để tỏ lòng tri ân. Theo lời dặn của hai vị, Thiền sư mang theo một khay nhỏ phủ nhung đen, lót một nắm bông gòn lớn, cùng một người đệ tử đến chánh điện. Sau khi đảnh lễ Phật và chư Tăng, ngài ngồi xuống, vị trưởng lão trẻ lên tiếng:

“Thưa Thiền sư, xin ngài đừng ngại. Ơn đức của ngài thật to lớn. Ngày mai chúng tôi xin phép được trở về, nên hôm nay mời ngài đến đây để đáp đền thâm ân trước khi từ biệt. Nào... mời Thiền sư hãy xem hai viên hồng ngọc này.” Nói rồi vị ấy lấy từ trong bát hai viên đá đặt vào tay Thiền sư. Kích cỡ chúng khoảng chừng trứng chim sẻ hay viên bi. Thiền sư vừa cầm xem vừa hỏi:

“Những viên đá này các ngài lấy từ đâu vậy?”

“Chúng tôi mượn tạm từ núi Hồng Ngọc (Pattamyar Taung) theo lời nguyện để đem cho ngài xem,” vị ấy đáp và đặt viên lớn hơn lên khay bông. Khối bông gòn dày cả gang tay bỗng rực lên một sắc đỏ rạng rỡ. Khi đặt viên thứ hai lên, ánh quang tỏa ra chỉ bằng phân nửa viên đầu. Thiền sư không hề thay đổi sắc mặt, vẫn điềm tĩnh mỉm cười quan sát. Sau đó, khi bỏ viên ngọc vào ly nước, cả ly nước bừng lên ánh đỏ rực rỡ; viên thứ hai cũng chỉ tỏa sáng phân nửa mức đó.

“Thưa Thiền sư, viên thứ nhất này là ngọc Ma-no-ma-ya (Ý Thuận); viên ngọc này có thần lực hễ mong cầu điều gì sẽ được như nguyện, dùng để hộ trì Phật pháp mãi không cạn. Nếu giữ viên này, cần phải dâng một bộ lễ vật cúng dường gồm ba mâm; còn viên thứ hai có đặc tính giữ cho tài sản không bị giảm sút hay hư hỏng và bảo vệ khỏi mọi hiểm họa, khi giữ viên này cần ít nhất một mâm cúng dường. Để cúng dường cho ba-la-m mật trí tuệ của ngài, chúng tôi xin được đáp đền thâm ân này, xin Thiền sư hãy nhận lấy một viên tùy ý thích.”

Thiền sư suy nghĩ trong chốc lát rồi với gương mặt rạng rỡ, hoan hỷ:

“Được các ngài ưu ái đền ơn thế này, lại được thấy vật báu chưa từng thấy, tôi đã lấy làm mãn nguyện lắm rồi

## TRANG 333

bạch các ngài. Xin cho phép tôi không nhận, mong các ngài lượng thứ. Tôi không muốn những nỗi khổ thế gian vốn đã rộng lớn lại càng thêm lan rộng. Sau khi các bậc Hiền giả trở về, tôi chỉ mong được hoan hỷ thấy các ngài nỗ lực hết mình với đề mục Thiền định cho đến khi hoàn tất phận sự của một vị Sa-môn (Rahan-kicca), đó chính là cách đền ơn tốt nhất đối với tôi rồi.” Nói đoạn ngài trở về nhà.

### Cuộc chia tay cuối cùng của những người ở những cảnh giới khác nhau

Sáng sớm hôm sau, sau khi thọ bát, hai vị trưởng lão khoác y bát, dáng vẻ uy nghiêm điềm tĩnh rời khỏi chánh điện. Vị trẻ hơn hướng về phía Bắc, còn vị lớn tuổi hơn rẽ về hướng Đông Bắc của vùng Pyawbwe. Có ba bốn hành giả là đệ tử của Thiền sư đi theo tiễn chân. Sau khi đi được khoảng năm mảnh ruộng, hai vị bảo họ quay về. Khi các hành giả đi tiễn quay đầu nhìn lại những bóng dáng đang băng qua những cánh đồng gốc rạ khô cằn, họ không còn thấy các ngài đâu nữa.

Vị trưởng lão lớn tuổi đi đến làng Nwasu ở phía Đông Bắc Pyawbwe. Dân làng Nwasu từ ba ngày trước đã xôn xao về những giấc mơ thấy "có vị A-la-hán sắp đến". Họ đã chuẩn bị sẵn sàng để dâng cúng vật phẩm. Khi thấy vị trưởng lão xuất hiện, dân làng vui mừng khôn xiết.

Một thí chủ thưa: "Bạch ngài, ngài từ đâu đến ạ?" Ngài đáp: "Ta từ trung tâm thiền Pyawbwe đến." Thí chủ lại hỏi: "Vậy ngài trụ xứ ở chùa nào, vùng nào ạ?"

Ngài ôn tồn:

"Ta không có chùa chiền hay trụ xứ nhất định nào cả. Nơi nào thích hợp thì ta tạm dừng chân thôi."

Nghe vậy, dân làng bèn cùng nhau cung thỉnh ngài ở lại làng Nwasu để giáo hóa. Vì trong làng lúc đó chưa có ngôi chùa nào, nên làng này và vị thầy này quả thật có duyên lành sâu nặng. Họ liền phát quang một khoảnh đất bên bờ hồ của làng và dựng ngay một ngôi chùa nhỏ để ngài có nơi cư ngụ. Trong suốt ba năm, dân làng đã nhận được sự giáo giới của ngài. Sau đó, tại chính ngôi chùa nhỏ này, ngài đã xả bỏ báo thân.

Khi hỏa thiêu kim thân, xá lợi của ngài lưu lại rất nhiều. Điều này đúng như những gì mọi người đã dự đoán và kính tin, nên họ vừa thành tâm thương tiếc vừa hoan hỷ xây một ngôi bảo tháp ngay tại bờ hồ đó để thờ phụng.

Trong lịch sử truyền thừa thiền tập (Paṭipatti) của Myanmar, một vị Hiền giả ẩn danh như ngài...

---
