## TRANG 337


281.

“…Ta không dạy đâu. Nếu con muốn học Chiêm tinh thì phải đắp y tu hành mới được. Sau này ra sao tùy ý con thôi,” bậc Thầy đã khuyên nhủ như thế để đưa cậu thiếu niên Maung Tet Kaung vào nương tựa nơi giáo pháp.

Chỉ trong vòng tám tháng, Ngài Ñāṇa đã tinh thông giáo khoa Chiêm tinh một cách xuất sắc. Khi trở về chùa Phayapinn, qua những lời khuyên dạy dần dà của Thầy, Ngài đã từ bỏ ý định hoàn tục sau khi học xong Chiêm tinh. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Ngài vẫn chưa thực sự thâm nhập hỷ lạc trong giáo pháp, thường tiêu khiển thời gian qua các bài thơ Chiêm tinh và các thể thơ Ratu. Bài thơ nổi tiếng “Mahos kyay say khann sho laik ratu” mang phong cách cung đình chính là thi phẩm đã giúp Ngài Ñāṇa “níu giữ” thời gian trong nếp sống xuất gia. Cuối cùng, vào ngày mồng 7 tháng Kasone năm 1228 (Miến lịch), Ngài Ñāṇa đã chính thức thọ cụ túc giới.

### Danh tiếng trong việc học và dạy Pháp

Khi vừa trở thành Tỳ-kheo, Ngài **U Ñāṇadhaja** đã quyết tâm lên Mandalay để tầm học giáo pháp, nhưng năm đó xảy ra cuộc biến động Myingun nên Ngài phải nhập hạ tại địa phương. Trong thời gian này, Ngài có cơ duyên nghiên cứu các bộ sớ giải Nissaya bằng tiếng Miến từ năm chiếc tủ lớn tại chùa và các bản thủ bản (lá buông) từ các chùa lân cận. Đến ngày mồng 5 tháng Nayon năm 1229, sau khi xin phép cha mẹ và bổn sư, Ngài lên đường đến kinh đô Mandalay để học đạo.

Với hai xấp lá buông buộc vào gậy, một bộ y dư và đôi bát trên vai, Ngài đi bộ vượt qua những chặng đường dài. Từ Alon Monywa đến Chaung-U, rồi vượt qua dãy núi Nwaykhway, Ngài đi bộ đến núi Sagaing. Ngài hoàn toàn không giữ tiền bạc (Nawakamma). Từ Sagaing đến Mandalay, Ngài phải đi nhờ thuyền.

So với các học tăng ngày nay, điều kiện thật khác biệt biết bao. Chính vì sự học khó khăn như thế nên thành quả đạt được vô cùng xứng đáng và sâu sắc. Suốt thời gian sau đó, Ngài đã hoằng dương giáo pháp một cách rộng rãi.

Tại kinh đô Mandalay với hơn bốn trăm tu viện, Ngài đã đến tu viện Mingala San (thường gọi là **Mahā Jodikārāma**) ở phía Bắc thành đúng vào dịp an cư năm đó. Phải trải qua kỳ khảo hạch tụng thuộc lòng **Dve Mātika** mới được phép lưu trú. Ngài được sắp xếp ở tại chùa Khayepin. Tại đây, vì vị trí ở gần đài nước – nơi tăng chúng thường xuyên qua lại – nên chỗ ở luôn ẩm ướt, Ngài phải luôn giữ tâm nhẫn nại. Nhận thấy pháp danh của Ngài quá “cao sang”, Ngài Sayadaw trụ trì đã đổi lại thành “**Ñāṇābhivaṃsa**”. Ngài Sayadaw tu viện trưởng San Kyaung bảo Ngài hãy học các lớp giảng giải (Laik-wa) với mình, và gửi Ngài đến học các lớp phân tích (So-wa) với đệ tử đắc lực của mình là Ngài U Paṇḍicca thành Salin.

## TRANG 338

Sự nghiệp của Ngài **U Ñāṇa** thăng hoa đúng vào thời điểm diễn ra kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ năm. Tại triều đình, trước sự chứng kiến của vua chúa, hoàng hậu và tứ chúng, Ngài đã một mình trùng tuyên thuộc lòng bộ **Kathāvatthu** thuộc Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma). Kể từ đó, danh tiếng của Ngài bắt đầu lan xa. Năm 1239 (tương đương hạ lạp thứ 10), Ngài không còn là học tăng nữa mà trở thành một vị giảng sư trẻ (Cā-khya Sayadaw). Các vị giảng sư bấy giờ được nhà vua cúng dường gạo theo ba cấp bậc: hạng nhất 5 thúng, hạng nhì 4 thúng và hạng ba 3 thúng. Ngài **U Ñāṇa** không dừng lại ở bậc giảng sư hạng nhì hay hạng ba mà đã thăng tiến vượt bậc lên hàng Giảng sư bậc nhất (Pathama Cā-taw-khya).

### Quan điểm của Ngài U Ñāṇa về Phạn ngữ (Sanskrit)

Khi mới bắt đầu sự nghiệp giảng sư, Ngài **U Ñāṇa** từng khởi tâm: “Nếu mình thông thạo Phạn ngữ như các vị đại thần Yaw Min Gyi thì thật tốt,” nên đã tìm tòi thu thập các sách Phạn văn. Đặt những cuốn sách đó ở đầu giường và suy ngẫm, Ngài chợt nhận ra:

“Hừm... Phạn ngữ vốn là ngôn ngữ của Bà-la-môn. Đọc những sách này chỉ thấy nói về thế gian và học thuyết Ngã (Attavāda). Trong vô số kiếp luân hồi, mình đã từng làm đệ tử Bà-la-môn và học Phạn ngữ quá nhiều rồi. Chính vì chấp nhận thuyết Ngã mà phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử. Kiếp này nhờ phước duyên may mắn được học kinh điển Vô ngã (Anattavāda), trở thành đệ tử Phật, thì việc ở trong giáo pháp và tuân thủ, rèn luyện theo đúng lời dạy của Ngài mới là điều chân chánh nhất.” Với quyết tâm sắt đá, Ngài đã hạ quyết định dứt khoát và đem vứt bỏ tất cả số sách Phạn ngữ ấy.

(Dựa trên việc Ngài từng bảo Ledi Paṇḍita học Phạn ngữ sau này, có người có thể cho rằng lời nói này chỉ là cái cớ để che giấu việc Ngài không biết Phạn ngữ. Nhưng không phải vậy. Nếu Ngài muốn học, chỉ trong vài tháng là Ngài có thể tinh thông. Ngài vốn hiểu rõ căn tánh và sở thích của Ledi Paṇḍita).

Những dự định và hành động của bậc đại đức đầy phước báu – người sẽ đội vương miện của thành tựu tâm linh – thì kẻ phàm phu khó lòng thấu hiểu được. Giữa văn học Phạn ngữ và văn học Pāḷi/Phật giáo tuy có vẻ có một chút tương đồng bề mặt về mặt học thuật, nhưng thực chất là hai con đường hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu không chỉ nhìn vào kiến thức bề ngoài mà quán chiếu sâu vào cốt tủy bên trong, ta sẽ thấy sự khác biệt này liên quan đến cả hành trình luân hồi. Do đó, quyết định của Ngài **U Ñāṇa** đối với Phạn ngữ chỉ có thể giải thích rằng: “Vì đó là tiền thân của Ngài Ledi – bậc sẽ hoằng pháp cho toàn thế giới.”

## TRANG 339


283.

Trong thời gian giảng dạy, với ý định viết một bản sớ giải mới cho Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammatthasaṅgaha) để thay thế cho bộ “**Ṭīkā-kyaw**” (Sớ giải cũ) và soạn một bộ sách ngữ pháp, Ngài đã bắt đầu ghi chép các tài liệu trong khi dạy học. Ngài thường xuyên nghiên cứu các bản thủ bản lá buông từ tạng thư đình. Trong một lần ghé thăm tu viện Thit-seint, khi đang tìm tòi trong mớ sách vở cũ, Ngài đã tìm thấy bản thảo bộ **Padarūpasiddhi** về ngữ pháp. Cảm thấy vô cùng tâm đắc, Ngài đã thử nghiệm đưa bộ này vào giảng dạy thay cho bộ ngữ pháp Kaccāyana truyền thống. Nhờ phương pháp giúp học viên dễ nắm bắt ngữ pháp này mà cho đến ngày nay, hậu thế vẫn còn thọ nhận ân đức của Ngài. Thuở ban đầu, Ngài còn phải dùng cả dù, giày và y phục để khuyến khích học tăng đến học. Những lúc rảnh rỗi, Ngài thường thảo luận về cách viết văn và tìm tòi phương pháp mới với các học giả như Yaw Atwin Wun U Po Hlaing và nhà trí thức hoàn tục U Phar.

Với kiến thức uyên thâm và niềm đam mê viết lách, vào hạ lạp thứ 14, khi trí tuệ bắt đầu tỏa sáng, một cơ duyên viết sách đã đến với Ngài. Chuyện là Ngài Sayadaw trụ trì tu viện San Kyaung đã soạn hai mươi câu hỏi hóc búa về Mười pháp Ba-la-mật bằng tiếng Pāḷi và thông báo: “Chỉ những bậc trí giả mới giải được.” Ngài **U Ñāṇa** nghĩ rằng: “Những câu hỏi này chính là dành cho mình,” nên với đầy đủ các trích dẫn và bằng chứng từ kinh điển, Ngài đã hân hoan viết nên tác phẩm đầu tay mang tên “Lời giải Ba-la-mật”.

Sau khi hoàn thành, Ngài mang đến trình cho thầy dạy trực tiếp của mình là Sayadaw U Paṇḍicca thành Salin. Vị Thầy đã phải búng tay tán thưởng: “Con học từ khi nào mà có thể viết được những ý nghĩa sâu sắc và xuất sắc đến thế này?” Sau đó, tác phẩm “**Pāramī Dīpanī**” (Ba-la-mật Minh giải) đã được chép lên lá buông, kẻ lề vàng trang trọng để Ngài mang đến kính dâng lên vị ra đề là Sayadaw tu viện trưởng San Kyaung. Nhưng khi đến nơi, mọi chuyện lại không như Ngài mong đợi.

“Văn chương của ông thì có ích gì? Ta hỏi không phải dành cho hạng người như ông, mà là dành cho các bậc Sayadaw danh tiếng lẫy lừng khắp bốn phương cơ. Cái đề bài này mà tầm cỡ của ông dám chạm tới sao?” Sayadaw trụ trì đã mắng nhiếc phủ đầu khiến Ngài **U Ñāṇa** vô cùng bàng hoàng và mất mặt.

Mặc dù xấp lá buông **Pāramī Dīpanī** bị quăng ném tung tóe, Ngài **U Ñāṇa** vẫn không thốt ra một lời nào, chỉ im lặng đảnh lễ rồi ra về. Kể từ đó, Ngài không bao giờ nhìn lại tác phẩm ấy nữa và để nó dần vào quên lãng. May mắn thay, một vị đệ tử của Ngài U Nāga – một người bạn cùng tu biết rõ giá trị của nó – đã trân trọng cất giữ. (Chỉ sau khi tu viện Ledi được thành lập, tác phẩm ấy mới được trả về). Đó chính là thử thách đầu đời dành cho bậc xuất chúng – người sau này sẽ đánh thức và thúc đẩy phong trào thực hành thiền định (Paṭipatti) tại Myanmar. Không rõ ý định thực sự của vị Sayadaw trụ trì là gì, nhưng đối với Ngài **U Ñāṇa**, lúc bấy giờ Ngài đã phải chịu một cú sốc tinh thần không nhỏ.

Việc Ngài **U Ñāṇa** bị khiển trách như vậy, nhìn bề ngoài có vẻ là chuyện bình thường...

---

# Tóm tắt Bối cảnh — Tiểu Sử Alahan

> Sau batch: output-337-to-339

## Nội dung đã dịch đến nay

Tác phẩm kể về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài Ledi Sayadaw (U Ñāṇa), một bậc cao tăng lỗi lạc của Phật giáo Myanmar. Nội dung bao gồm giai đoạn Ngài mới xuất gia, quá trình tầm sư học đạo đầy gian nan nhưng quyết tâm tại kinh đô Mandalay, và sự thăng tiến nhanh chóng trong hàng ngũ giảng sư nhờ trí tuệ xuất chúng.

## Batch vừa hoàn thành

- Nội dung chính: Ngài U Ñāṇa thọ giới Tỳ-kheo, lên Mandalay học pháp, thể hiện tài năng trùng tuyên bộ Kathāvatthu, quyết định từ bỏ Phạn ngữ để chuyên tâm vào giáo lý Vô ngã của Phật giáo, và sự cố bị mắng nhiếc khi trình tác phẩm đầu tay Pāramī Dīpanī.

- Số trang: 337-339

