## TRANG 343

Khi màn đêm buông xuống, cái lạnh bắt đầu thấm dần. Ngoài ba tấm y, Ngài **Nāṇa** (Trưởng lão Ledi Sayadaw khi còn trẻ) không có vật gì khác để che chắn cái lạnh, cũng không có am thất trú ngụ. Nhờ hỷ lạc từ định tâm (Pháp hỷ), Ngài có thể chế ngự được sự khắc nghiệt của thời tiết. Ngay khi mặt trời lặn, Ngài cử hành khóa lễ bái Tam Bảo, tụng kinh Paritta, hồi hướng công đức và trải tâm từ. Đêm càng về khuya, thỉnh thoảng Ngài nghe thấy những âm thanh mơ hồ đến dựng tóc gáy và ngửi thấy những mùi hôi thối nồng nặc. Khi đó, Ngài hướng tâm đến chư Thiên giữ rừng, chư Thiên giữ núi và kết thân (mếttā) với các hàng phi nhân (amanussa) như dạ-xoa, ngạ quỷ.

Đầu tiên, Ngài hướng mặt về phương Đông và tuyên cáo:

“Này các hàng dạ-xoa, ngạ quỷ ở phương Đông, ta đến khu rừng này để phụng sự giáo pháp và lợi lạc cho chúng sinh với tâm thế như cha mẹ, như thân quyến của các ngươi. Các ngươi cũng hãy xem ta như cha mẹ, như thân quyến mà đừng gây bất kỳ sự nhiễu loạn nào, hãy chung sống trong thanh bình.” Ngài lần lượt thực hiện việc kết thân và ban lời tuyên cáo tương tự cho ba phương còn lại. Sau khi kết thân, Ngài miên mật tu tập tâm từ và thiền quán. Kể từ đó, mọi nỗi sợ hãi và kinh hoàng hoàn toàn biến mất.

Sáng hôm sau khi trời vừa rạng diện, ông hộ pháp **U Waing** cùng vài nam cư sĩ tìm đến. Ngài **Nāṇa** vẫn đang ngồi an nhiên tự tại dưới gốc cây đại thụ Tazaung. Ông **U Waing** tha thiết thỉnh cầu Ngài trở về chùa cũ:

“Khu rừng này quá hung dữ và nguy hiểm, bạch Ngài, Ngài nên đi cùng với các vị Sư khác thì tốt hơn.”

Ngài đáp: “Này Maung Waing, nơi này không dữ bằng khu rừng Hlay-ku (ở Monywa) của các con đâu. Dù nơi đây có dữ đến đâu, nếu ta biết lắng nghe lời dạy của Đức Phật thì sẽ không có kẻ thù nào cả, cũng chẳng cần bạn đồng hành. Vũ khí tốt nhất của một vị tỳ-khèo ở rừng là giữ gìn giới hạnh trang nghiêm và tu tập tâm từ; khi đó, việc ăn ở hay hiểm nguy đều không còn đáng ngại.

Trong kinh **Saṃyutta Nikāya** (Tương Ưng Bộ), Đức Thế Tôn đã ví người tu tập tâm từ giống như một ngọn giáo hai lưỡi cực kỳ sắc bén. Kẻ nào muốn bẻ gãy, uốn cong hay cuộn lấy ngọn giáo ấy thì chỉ làm cho chính mình bị thương. Vì vậy, không một hàng phi nhân nào dám đụng đến người đang an trú trong tâm từ. Chúng biết rõ rằng nếu xúc phạm, chính chúng sẽ chuốc lấy khổ đau. Việc làm cho tâm trí người ấy rối loạn là điều không thể. Theo kinh **“Satti Sutta”** (Kinh Ngọn Giáo), tâm từ không chỉ là lá chắn mà còn là một loại vũ khí phản công dũng mãnh. 11 lợi ích của tâm từ không chỉ để thuyết giảng cho hay, nếu thực sự tin tưởng và thực hành thì không một loài ma quỷ, vũ khí hay chất độc nào có thể làm hại được.”

## TRANG 344

“Này Maung Waing, thay vì chỉ phân tích các pháp (Abhidhamma) trên bàn luận, trong thời buổi loạn lạc này, con nên tự phân tích ngay trong chính thân tâm mình. Thôi, đã đến giờ đi bát, các con hãy về đi. Năm ngoái đã thỉnh, đã cúng dường một lần rồi. Nếu giờ lại theo về thì vị sư này sẽ trở thành gánh nặng mất.” Nói đoạn, Ngài khéo léo từ chối và bảo họ về. Ông **U Waing** cùng các cư sĩ đành rút lui, nhưng họ đã lên kế hoạch xây dựng ngay trong ngày một am thất nhỏ để Ngài cư ngụ.

### Hai mươi năm không gián đoạn phận sự với tăng đoàn

Rừng Ledi thời bấy giờ nổi tiếng là nơi có nhiều hiện tượng kỳ bí và đáng sợ, nên chính Ngài **Nāṇadhaja** (Trưởng lão **Ledi Sayadaw**) thỉnh thoảng vẫn thực hiện nghi thức “cúng thí trong rừng”. Sau này, người ta vẫn truyền tai nhau rằng khi chó hú vào ban đêm là lúc các hàng phi nhân đang đòi ăn, nên người ta thường đem thức ăn và các món mặn đựng trong lá chuối sạch ra cúng lúc hoàng hôn. Họ tin rằng phi nhân sẽ nhập vào một con chó nào đó để thọ hưởng vật thực.

Các vị tăng trẻ ở Hlay-ku vì nặng lòng kính trọng thầy và muốn cầu học giáo pháp, nên mặc cho rừng thiêng nước độc, họ vẫn tìm đến nương tựa Ngài từ ba đến bốn vị. Các thí chủ cũng dần dần xây dựng những ngôi chùa lớn, tịnh xá lớn cúng dường. Từ đó, chùa Ledi trở thành một đại tu viện tự bao giờ không hay, và Ngài lại một lần nữa bị ràng buộc vào gông cùm của **Ganthadhura** (Pháp học). Số lượng tăng chúng bấy giờ đã lên đến gần một trăm vị.

**Ledi Sayadaw** là bậc xuất trần trong việc thực hành các phận sự (**Vatta-paṭipatta**) đối với Tam Bảo. Khi sống cùng tăng đoàn, Ngài không chỉ dạy học, viết sách và thuyết pháp. Ngài còn tự mình đi khất thực khắp thành phố để nuôi dưỡng tăng chúng, quét dọn, gánh nước, thậm chí rửa cả bát đĩa sau khi chư tăng thọ thực xong – đó là những hành động thực sự phi thường.

Cứ 4 giờ sáng, Ngài đã gánh nước từ giếng đổ đầy các lu hũ và dọn dẹp khu vệ sinh. Khi các vị tăng trẻ biết chuyện, họ không dám dùng nước đó để tắm rửa hay súc miệng, Ngài lại phải từ tốn an ủi: “Cứ dùng đi, không sao cả.” Không chỉ thực hiện phận sự trong nội viện, Ngài còn đến các ngôi chùa lớn trong thành phố Monywa, nơi có các vị đại Trưởng lão và đông đảo tăng chúng cư ngụ để đổ đầy nước vệ sinh, rửa tăm xỉa răng, gánh nước và quét dọn trước khi đi khất thực.

Nhiều vị trụ trì vì cảm thấy ái ngại nên đã can ngăn:

## TRANG 345

“Bạch Ngài Ledi, xin Ngài đừng làm thế nữa, như vậy là quá đủ rồi.”

Ngài khiêm cung thưa lại: “Nếu các Ngài có lòng thương tưởng con, xin hãy cho phép con thực hiện. Suốt vòng luân hồi, đôi tay và đôi chân này đã từng làm nô lệ cho vợ con, nô lệ cho dục vọng. Nay xin hãy để con được làm nô lệ cho Tăng đoàn, nô lệ cho Giáo pháp.” Và Ngài vẫn bền bỉ thực hiện những phận sự ấy. Ngài đã trì giữ **Cetiyangana-vatta** (phận sự tại bảo tháp) và **Sangha-vatta** (phận sự với Tăng đoàn) một cách tinh tấn suốt ròng rã hai mươi năm. Đó quả là nghị lực phi thường của một bậc Đại Bồ-tát (Alaug-daw-gyi).

Để thực hiện những việc này, mỗi ngày Ngài đều mang theo chổi, hũ nước cùng với bình bát khi đi khất thực. Ngài thường tự răn mình: “Phải bắt cái xác thân đi mượn này làm việc cho xứng đáng mới được!” Ngài luôn nhắc nhở rằng: Chỉ khi hoàn tất các phận sự (**Cariya**) thì mới có được **Sīla** (Giới), **Samādhi** (Định), **Paññā** (Tuệ); có hành trì (**Caraṇa**) thì mới đạt đến **Vijjā** (Minh). Phận sự (**Caraṇa**) chính là chân tay và đôi cánh trên con đường đi đến Niết-bàn. Nếu chỉ có mắt nhìn (**Vijjā**) mà không có tay chân (**Caraṇa**) thì không thể đi đến đích hay đạt được kết quả gì.

Có một lần, trong chùa Ledi có một vị tỳ-khèo mắc bệnh truyền nhiễm (dịch tả), một số vị tăng khác đã lánh đi nơi khác, số còn lại không ai dám đến gần. Khi Ngài biết chuyện, Ngài bảo: “Những vị Sa-di, Tỳ-khèo nào sợ hãi thì cứ việc đi. Vị tỳ-khèo lâm bệnh này để ta chăm sóc.” Nói rồi, Ngài tự tay đem những tấm y bám đầy uế khí ra giếng để giặt giũ. Mùi hôi thối của bệnh dịch rất nồng nặc, và mặc dù Ngài đã từng chăm sóc người bệnh từ thời còn là tăng sinh, nhưng lúc ấy tâm nhàm chán và ghê tởm vẫn khởi lên.

Ngay lúc đó, Ngài tự quở trách tâm mình: “Hỡi cái tâm hèn mọn, nhà ngươi định lừa dối ta sao!” Ngài liền lấy những uế khí bám trên chăn y bôi khắp cơ thể mình như một cách để thử thách và trui rèn ý chí. Sau hành động quyết liệt đó, tâm ghê tởm hoàn toàn tan biến. Ngay chính Đức Thế Tôn khi xưa cũng từng tự tay chăm sóc và tắm rửa cho các vị tỳ-khèo lâm bệnh.

Trong kinh **Vinaya Mahāvagga** (Luật Tạng, Đại Phẩm - Vi 3, 417), Đức Phật đã tán thán: “Người nào chăm sóc cho tỳ-khèo bệnh, người ấy cũng như đang chăm sóc cho chính Ta vậy.” Đây quả là một hạnh nguyện mà người bình thường khó lòng thực hiện được.

### Quyết định về vấn đề thịt bò

Ngài cực kỳ ghê tởm việc uống rượu, cờ bạc và chơi xổ số. Đúng như lời Đức Thế Tôn dạy trong kinh **Parābhava Sutta** (Kinh Bại Vong): “Đắm chìm trong phụ nữ, rượu chè và cờ bạc là con đường dẫn đến sự bại vong”, Ngài đã viết nhiều bức thư tâm từ để giáo huấn dân chúng. Ngài cũng đặt vấn đề kiêng ăn thịt bò lên hàng đầu và vận động mạnh mẽ...
