## TRANG 346

Ngài thực hiện công hạnh này.

Dựa trên kinh điển Sutta Nipāta [Kinh Tập], ngài cũng chỉ ra lịch sử từ thời sơ khai của địa cầu về việc con người bắt đầu giết mổ và ăn thịt trâu bò — vốn được xem như cha mẹ — dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại bệnh tật. Ngài cũng đã nhiều lần in ấn và phổ biến các tác phẩm như “Nwa Metta Sa” (Thư tâm từ gửi loài bò) và “Gonamaṃsa Dīpanī” (Minh sát về thịt bò). Khắp cả nước, hàng ngàn người đã phát nguyện từ bỏ việc ăn thịt trâu bò. Tuy nhiên, cũng không thiếu những kẻ viết lách, thuyết giảng chống đối, cho rằng "phải ăn thịt bò". **U Paduma ở Pathein**, người từng tìm cách đối địch với ngài Mānlai Sayādaw, chính là thủ lĩnh của phe đối lập này. Khi ngài Sayādaw đến thành phố Pathein để thuyết giảng, các đệ tử của **U Paduma** đã tìm đến và thưa rằng:

“Nếu ngài nhận sự cúng dường thịt bò, điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngài cho phép ăn thịt các chúng sinh khác. Như vậy, tâm từ của ngài Sayādaw có công bằng hay không?”

Ngài liền đáp: “À... đúng vậy các con ạ. Như các con đã biết, ta vừa phải viết sách, vừa dạy học, lại phải đi khắp nơi để giúp ngăn chặn các đại dịch và thuyết pháp; giữa bao nhiêu việc như thế, ta chỉ đủ sức cứu lấy một con bò nhỏ mà thôi. Còn về phần dê, heo, gà... thì vẫn còn các bậc thầy của các con lo liệu đó thôi, các con cứ thưa với họ, như thế cũng tốt mà.” Ngài biết rõ đây chính là luận điệu của **U Paduma**.

Có một lần, ngài Sayādaw thuyết pháp ban đêm tại chợ Thurè ở phía bắc Mandalay, dân chúng đi xe bò đến nghe rất đông. Một người đánh xe bò đứng ở phía ngoài rìa hội chúng nói giọng thiếu hiểu biết: “Ăn thịt bò thì có sao đâu. Chính Đức Phật còn không cấm, sao ngài Ledi Sayādaw lại bày ra pháp lạ lùng này để giảng chứ?” Ngay lập tức, con bò của chính anh ta đang nằm nghỉ bên cạnh bỗng dưng lồng lên húc, làm anh ta gãy xương sườn phải đưa đi bệnh viện. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chư thiên luôn hộ trì giáo pháp. Bản thân con bò đã tự mình phán quyết về "pháp của loài bò".

### Thực hành Thiền định và Soạn thảo Kinh điển

Giữa những công việc vô cùng băn khoăn mà người bình thường không dám nghĩ tới như giữ gìn giới luật tinh nghiêm (caraṇa vatta), trách nhiệm về pháp học (pariyatti) và thuyết giảng, ngài Sayādaw vẫn miệt mài nỗ lực soạn thảo kinh điển. Cho đến nay, số lượng tác phẩm bao gồm các bộ Dīpanī đã lên tới 101 tập. Phần lớn các bản thảo đều được viết vào ban đêm dưới ánh nến và đèn dầu. Tinh thần tinh tấn và đức tin của ngài thật đáng để chúng ta noi theo. Vị Tỳ-kheo U Revata là người trợ giúp ngài trong việc viết lách. Sư phải gọt sẵn một hai trăm cây bút chì và cắt giấy xếp thành từng xấp. Những gì ngài viết vào ban đêm, Sư Revata sẽ sao chép lại thành bản sạch vào sáng hôm sau.

## TRANG 347

Một đêm nọ, khi đang viết dở đến khoảng hai giờ sáng thì hết dầu hỏa nên phải dừng lại. Sáng ra, ngài gọi người hộ thọ (kappiya) đến và bảo:

“Cách làm của các con cứ như cái đèn leo lét trong nhà góa phụ, làm việc mà cứ như trẻ con chơi đồ hàng vậy. Hãy đi tìm thợ thiếc, làm cho ta một cái đèn dầu bằng thùng thiếc lớn, kích thước bốn cạnh, bấc đèn phải dùng được một hai tháng. Đổ đầy dầu hỏa rồi đặt ở đầu giường của ta, như vậy thì sẽ không còn trở ngại gì nữa.” Ngài đã chỉ bảo như thế và họ đã làm theo. Đến khi ngài tuổi cao sức yếu, đôi mắt bị bệnh cũng là điều dễ hiểu.

Khi viết sách, ngài không cần tra cứu kinh điển, cũng không để sách bên cạnh; bởi kiến thức đã được ngài nghiên cứu nằm lòng đến mức không cần xem lại. Chỉ riêng với trí tuệ về Pháp học (Pariyatti) thôi đã viết không xuể, đằng này ngài lại còn chuyên tâm vào Pháp hành (Paṭipatti), khiến cho tuệ giác của ngài càng thêm tỏa sáng rực rỡ.

Ngài thường dạy rằng: “Nếu ta ngồi viết bên cạnh tủ sách, thì những lời trích dẫn Pāḷi sẽ mang âm hưởng của thư viện, của tủ sách, khiến những người bình dân khó lòng hiểu được. Vì chúng ta viết ở trong rừng, trong núi, nên những trang sách này mang hơi thở của núi rừng, dân dã, giúp cho hạng người bình dân nơi thôn dã cũng có thể hiểu được. Khi viết trong lúc đang nỗ lực hành thiền (**Kammaṭṭhāna**), người đọc sách của ta cũng sẽ cảm nhận được hương vị như thể chính mình đang thực hành thiền định vậy.” 

Thật đúng như thế. Trong các tác phẩm của ngài Sayādaw, có những chỗ dù Đức Phật không trực tiếp thuyết, cũng không có trong các bản chú giải, thậm chí ngài còn dũng cảm đưa ra những nhận định đi ngược lại với các bộ Aṭṭhakathā (Chú giải) và Ṭīkā (Phụ chú giải) hiện có. Ngài có thể thâm nhập và thấu suốt cho đến tận những hạt vi trần (kalāpa) nhỏ nhất trong vũ trụ vô biên. (Xem thêm bộ **Niyāma Dīpanī**, v.v.)

Trí tuệ ấy không gì khác ngoài năng lực của định lực tu tập (Paṭipatti samādhi) không vướng chút bụi bặm phiền não (Kilesarībhāva, Apparajikkha-jāti). Với nền tảng Pháp học (Pariyatti) lưu loát cộng với sự tôi luyện sắc bén của Pháp hành (Paṭipatti), trí tuệ của ngài Sayādaw đã viết nên những tác phẩm bất tận, mà mỗi dòng chữ đều vô cùng uyên thâm. Tuy nhiên, nếu nói một cách khách quan, thì chính việc này lại biểu hiện một dấu hiệu khiếm khuyết (**Hānabhāgiya**) đối với Tuệ chứng ngộ (**Paṭivedha ñāṇa**) của ngài. Đó chính là sự chướng ngại lớn từ công việc biên soạn (Gantha palibodha). Viết sách là tốt, nhưng không phải là điều tốt nhất. Ngài đã dành tới một phần tư cuộc đời mình cho việc soạn thảo kinh điển.

### Từ Mahābodhi đến rừng Sāpagaṃ

Vào ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Tabodwe năm 1257 (ME), ngài Sayādaw cùng các đệ tử khởi hành đi chiêm bái cội Bồ-đề (Mahābodhi) tại Ấn Độ. Trên chuyến xe lửa từ Mandalay đi Yangon, ngài đã viết xong bài thơ **Paṭiccasamuppāda Laṅkā** (Kệ Duyên Khởi) gồm 13 khổ. Trong hành trình năm ngày bốn đêm trên tàu thủy,

## TRANG 348

vừa đi chiêm bái các thánh tích lịch sử bất biến (avijahita) của Đức Thế Tôn, ngài vừa viết xong bộ luận lớn “**Paṭiccasamuppāda Dīpanī**” (Minh Sát Duyên Khởi). Việc soạn thảo bộ luận về **Duyên Khởi** trên đường đến vùng đất Bồ-đề thật vô cùng tương hợp. Chẳng phải tại nơi thành đạo này, Đức Thế Tôn đã suy xét và quán chiếu về mười hai nhân duyên đó sao? Tại thánh địa Mahābodhi, ngài cũng đã phóng sinh các loài động vật trên cạn để cúng dường và tri ân trí tuệ Đại bi của Đức Phật. Trên đường từ Mahābodhi trở về, ngài không quay lại Monywa mà dừng chân an cư kiết hạ tại rừng Sāpagaṃ thuộc dãy rừng lớn Twante Dala.

Dường như ngài suy niệm rằng tại vùng Trung Ấn (Majjhima Desa), nơi Đức Phật đản sinh, giáo pháp đã bị tận diệt, nên chỉ khi đắc được các tầng Thiền định và Thần thông (Jhāna Abhiññā) thì công cuộc hoằng pháp mới thực sự có thành tựu.

Tại rừng Sāpagaṃ, bắt đầu từ tháng Tagu, ngài bắt đầu nỗ lực tu tập Thiền chỉ (Samatha). Đầu tiên ngài chọn **O dāta Kasiṇa** (Kasiṇa màu trắng), ngài đặt một vòng tròn màu trắng phía trước và định tâm quán chiếu "Trắng - Trắng", rồi dần dần mở rộng đối tượng Kasiṇa trong tâm. Ban đầu bằng quả me rừng, sau đó bằng một quả **Gon-nyin** (hạt của loại cây leo lớn), rồi hai quả... cứ thế ngài quảng bá và phát triển cho đến khi hiện ra **Paṭibhāga-nimitta** (Tương tự tướng) trong ngần và thanh khiết như mặt biển bao la. Tuy nhiên, do vòng Kasiṇa quá rộng lớn nên tâm chưa đạt được sự tĩnh lặng và làm chủ hoàn toàn.

Khi đó:

“Kinh điển dạy rằng **Paṭibhāga-nimitta** phải tĩnh lặng và kiên cố. Nhưng hiện tại nó không tĩnh mà lại dao động. Có lẽ đây không phải là **Paṭibhāga** thật, mà chỉ là một sự ảo giác của đối tượng (ārammaṇa)” — ngài đã hiểu lầm như vậy. Và chính từ sự hiểu lầm đó, ngài đã nỗ lực đè nén và tiêu hủy cái ấn tướng ấy. Nhưng không dễ gì tiêu hủy được. Ngài phải thắp rất nhiều đèn suốt cả đêm, quán chiếu thay thế bằng ánh sáng thì ấn tướng đó mới tan biến. Ngài từng dạy rằng: “Nếu dạo ấy không tiêu hủy ấn tướng đó mà cứ tiếp tục tiến lên thì đã có thể chứng đắc **Appanā** (Định an chỉ) rồi.”

Sau đó, ngài tiếp tục thiết lập pháp hành Thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). Trong suốt một mùa hạ, ngài nỗ lực quán chiếu hơi thở, không ai có thể lường trước được ngài đã tiến xa đến mức nào. Trong thời gian ở rừng Sāpagaṃ, ngài đã viết và trao cho người đệ tử lớn là **Ledi Waṇṇita** (nay là cư sĩ U Hla Tin ở thành phố Thaton) bài thơ Tè-hạt sau đây:

“Giữa thời mạt pháp, chúng sinh náo nhiệt sinh ra, hãy thử tìm khắp cõi Diêm-phù xem có bậc trượng phu nào như ta chăng? Ta dựng ngọn cờ tinh tấn, đánh vang tiếng vang vô tiền khoáng hậu. Công hạnh hành giả đa đoan, nhưng tuệ giác mới lạ vẫn nảy nở. Với năng lực của tuệ sư tử (Kesari), ta sẽ đi trọn con đường Thiền định, làm chủ trọn vẹn Ngũ tự tại (Vasī). Ở cõi trời dưới Phạm thiên, ta sẽ cắm ngọn cờ thần thông rực rỡ và an hưởng sự thanh cao nổi tiếng. Ta không hề chán nản mà luôn hân hoan, trong ngày chiến thắng của đức Maitreya (Di-lặc), ta sẽ nguyện làm vị tướng tiên phong quả cảm.”

Những lời trong bài thơ này chính là tiếng rống của sư tử (Sīhanāda).