## TRANG 352

“Bạch Ngài, cho phép con được bạch,” một người nữ thưa. Ngài liền quở rằng: “Này... này đạo hữu, cô là cái gì mà dám đứng ngang hàng với bộ **Đại Tỷ-kheo-ni-giới-luật (Đại Ti-ka)** của ta? Đi đi, đồ ngu muội!” Ngài đã từng phải đuổi đi như vậy. Trên bước đường vân du, những kẻ tìm cách tiếp cận để bắt bẻ, công kích một cách thiếu cung kính hay thô lỗ như thế vốn không hề hiếm.

Vào năm 1260 (Phật lịch), theo lời cung thỉnh của đại đệ tử là Ngài U Tiloka ở núi Thekkyetaung, Thiền sư Ledi đã khởi hành đến Kyaikhto. (Về lý do cung thỉnh, tôi sẽ viết chi tiết trong chương về Thiền sư Thekkyetaung). Tại núi Thekkyetaung, Ngài lưu lại khoảng hai tháng vào tiết tháng Tazaungmon và Nattaw. Ngài cũng ban những lời pháp nhắc nhở liên quan đến lộ trình thực hành cho vị đại đệ tử U Tiloka. Trong thời gian lưu tại đây, Ngài không ở trong các giảng đường lớn mà chỉ trú trong một am lá nhỏ, dành toàn bộ thời gian để hành thiền quán tưởng.

Một buổi chiều nọ, người hộ tăng Maung Son mang nước quả đến cúng dường tại am lá nơi Thiền sư Ledi đang trú ngụ. Trước khi vào am, anh ta liếc nhìn vào bên trong thì đôi chân bỗng khựng lại. Sau một hồi đứng ngẩn ngơ vì kinh ngạc, khi sực tỉnh, anh không vào cúng dường nữa mà quay trở ra, tìm gặp Thiền sư U Tiloka để trình báo sự việc.

Ngài U Nandamala (người dịch bộ **Thanh Tịnh Đạo**), Ngài U Visuddha, Ngài U Javana cùng các vị đại đệ tử khác cũng lặng lẽ cùng nhau tiến về phía am lá nhỏ ấy. Một lát sau, khi Ngài U Tiloka ra hiệu bằng ánh mắt, tất cả đều nhẹ nhàng lui ra, không để phát ra tiếng bước chân.

Nguyên nhân là bên trong am lá, trong khi đang thiền định, Thiền sư Ledi không hiện ra như hình dáng thông thường mà Ngài đang ngồi kiết già, mắt khép hờ và lơ lửng trên không trung cao khoảng hai thước (hơn 1 mét); dù đứng từ xa họ cũng nhìn thấy rõ ràng.

Đúng như lời người hộ tăng kể lại, tận mắt chứng kiến sự việc, Thiền sư U Tiloka đã gọi tất cả các đệ tử có mặt lại và căn dặn: “Khi Ngài còn tại thế, tuyệt đối không ai được kể lại chuyện này. Chính Ngài đã nghiêm cấm điều đó.” Có lẽ Ngài đã cố ý nhập định thị hiện thần thông như vậy để giáo hóa vị đệ tử có tâm tính mãnh liệt như thiền sư núi Thekkyetaung chăng? ([Có lẽ hiện nay cũng có nhiều hành giả bay bổng trên không trung nhờ vào Cần-sách-hỷ - Ubbeṇgā-pīti]).

Vào ngày mùng 4 tháng Chạp (Nattaw), Ngài lên đường đến thị trấn Bilin để chiêm bái bảo tháp Kusinayon. Khi Ngài nghỉ đêm tại đó, có ba bốn vị đạo sĩ (rishi) đang tu tập tại bảo tháp đã đến đảnh lễ và thưa chuyện, đàm đạo cùng Ngài.

Khi đó, vị đạo sĩ trưởng đoàn bạch rằng:

## TRANG 353

“Bạch Ngài, được diện kiến Ngài là niềm hoan hỷ cực kỳ lớn lao đối với con. Con đã xuất gia làm đạo sĩ được mười năm. Nhìn thấy chúng sinh vì đạo đức suy đồi mà phải gánh chịu các tai ương khổ nạn, vì lòng xót thương nên hiện con đã hoàn thành 108 ngày ăn chay (kiêng thịt) và đang thực hiện 45 ngày ăn thực phẩm không nấu nướng (mi-lut-sar). Hàng ngày, con giữ vững tâm nguyện tu tập Giới (Sīla), Chân đế (Saccā), Từ ái (Mettā) và thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). Khi Ngài đến đây, xin Ngài hãy ban lời giáo huấn cho các đệ tử chúng con.”

### Tu hành đúng nhưng sai mục tiêu

Này—Tốt lắm. Cứu giúp chúng sinh không phải là làm điều gì quá đặc biệt. Trước hết phải tự mình leo lên bờ, tự cứu mình thoát khỏi dòng nước rồi mới có thể cứu được kẻ đang chìm. Tự mình nỗ lực tu tập chính là đang cứu giúp chúng sinh vậy. Tuy nhiên, điều quan trọng là phương pháp và nền tảng phải đúng đắn. Những pháp như Giới (Sīla), Chân đế (Saccā)... mà đạo sĩ nói tới chính là những pháp Ba-la-mật (Pāramī) nền tảng rất tốt. Tuy tên gọi giống nhau, nhưng để đạt được thực chất chân chính thì không hề dễ dàng.

“Cho dù có đạt được thực chất đi chăng nữa, nếu **Tâm nguyện (Paṇidhāna)** không đúng thì cũng không mang lại nhiều lợi ích. Paṇidhāna tức là đích đến mà mình nhắm tới. Chỉ khi hướng về Niết-bàn thì mới được gọi là **Chánh tâm nguyện (Sammā-paṇidhāna)**, khi đó những khổ cực đã chịu, nhân duyên gặp gỡ Giáo pháp mới thực sự xứng đáng. Dù nói là vì chúng sinh và mang dáng dấp của những điều cao thượng, nhưng nếu đó chỉ là các pháp Giới, Chân đế, Từ ái, tâm nguyện hay các câu chú khiến mình dính mắc vào những thiền định đặc biệt trong cõi thế gian (với tâm ưa thích luân hồi - Vaṭṭābhirata), làm dài thêm sự trói buộc, thì điều đó khác xa với định nghĩa về Ba-la-mật - con đường thoát khỏi luân hồi. Này đạo sĩ, chúng chỉ giống nhau ở cái tên mà thôi. Nó cũng giống như việc người ta hô vang tên vũ khí Kim Cang (Vajra) nhưng chỉ để sử dụng như một loại bùa chú.

Việc tu hạnh kiêng thịt hay không ăn thức ăn nấu nướng không phải là giáo pháp trong đạo Phật. Tất cả các pháp từ Giới đến Định đều là “**Sở hành (Caraṇa)**”. Nếu Caraṇa này không đúng thì không thể đắc được Minh sát tuệ (Vijjā). Thậm chí đối với những người nỗ lực thực hành thiền định với Caraṇa Ba-la-mật đúng đắn, nếu chỉ dừng lại ở mức độ mong muốn Niết-bàn thôi thì vẫn không thể đạt được. Đức Phật dạy rằng phải là “**Pahitatto**” = phải luôn có cái tâm hướng thẳng (phóng mình) về phía Niết-bàn. Phải xác quyết rằng: ‘Trong đời này, chỉ có công việc này mà thôi’, như đóng một chiếc cọc cố định, đó mới gọi là Pahitatto.

“Cũng giống như một người đam mê luyện kim chuyển hóa (đát-lông), khi đi, khi ăn, khi ngủ, tâm trí họ luôn đặt vào việc đó. Nếu nền tảng Caraṇa không vững chắc, đích đến nhắm tới không phải Sammā-paṇidhāna, và tâm Pahitatto không kiên định, thì dù có tu hành khổ hạnh khắc khổ qua hàng trăm, hàng ngàn năm cũng không thể chạm tới Đạo quả (Paṭivedha). Việc khắc khổ trong ăn mặc, ở theo truyền thống Giáo pháp mà không màng thân mạng cũng chỉ là đoạn trừ phiền não tạm thời (tadaṇga-pahāna), chứ không phải là hành động có thể vượt ra khỏi sự chấp thủ (upādāna). Giống như việc phát quang bụi rậm trong rừng để nó lại mọc lên tươi tốt hơn, việc đó cũng chỉ làm cho bụi rậm chấp thủ của kiếp sau thêm phần rậm rạp mà thôi,” Ngài dạy.

## TRANG 354

### Vì sao phải biên soạn Vijjāmagga Dīpanī (Cẩm nang đường về Minh Tuệ)

Vị đạo sĩ, người đang lắng nghe những lời dạy của Ngài với sự quan tâm đặc biệt, thưa rằng: “Bạch Ngài, con hoàn toàn thấu hiểu và tâm đắc với ý chỉ của Ngài. Thú thật với Ngài, con hằng ngưỡng mộ những vị Minh sư (Vijjā) đạt được quả vị Thánh và có thể kéo dài tuổi thọ đến hàng ngàn năm để cứu độ chúng sinh.”

Ngài Ledi dạy:

“Ừ, phương pháp kéo dài tuổi thọ đến hàng ngàn năm thì bên ngoài Giáo pháp cũng có thể có. Trong Giáo pháp cũng có pháp Thần túc (Iddhipāda), nhưng những bậc Thánh (Ariya) đã thấu triệt Tứ Thánh Đế luôn thấy rằng sống thêm một ngày là phải chịu thêm một ngày khổ đau, nên các Ngài thường rất hoan hỷ khi nhập Niết-bàn. Các Ngài không lấy sự thọ mạng làm đích đến. Một sợi tóc nằm trên lòng bàn tay thì khó nhận ra, nhưng khi lọt vào mắt thì thấy rất rõ; cái nhìn của kẻ phàm phu và bậc Thánh về **Khổ trong các hành (Saṇkhāra dukkha)** cũng khác biệt xa nhau như thế.

Hệ tư tưởng muốn sống thọ, hay tư tưởng kéo dài thời gian đến tận thời Đức Phật Metteyya (Di-lặc) đều là không đúng. “Thánh Minh sư” (Ariya Vijjā) tuy thuật ngữ có vẻ giống, nhưng không phải là con đường của các đạo sĩ luyện đan (Vijjā Zawgyi). Đừng lầm tưởng đó là Ngài Pilindavaccha; đừng để bị đánh lừa.

Những người được gọi là “Bậc Minh sư” thoát ly nhờ vào bùa chú, linh dược, hay đát-lông mà dám nói là để trở thành bậc Thánh thì đó là những lời hết sức phi lý. Vậy mà họ lại tự coi mình là bậc Thánh. Có lẽ chính họ cũng tin mình là bậc Thánh, họ cũng biết giảng dạy về **Thiền quán (Kammaṭṭhāna)**. Nhưng họ chỉ ham thích ở mức độ Thiền định (Samatha) mà thôi. Bản thân họ sợ thoát khỏi luân hồi, mà họ cũng chẳng muốn người khác thoát ly.

Thực chất, này đạo sĩ, họ đang mượn danh nghĩa để làm mờ nhạt đi giáo pháp Vô ngã (Anatta) của Đức Thế Tôn, hòng lôi kéo chúng sinh theo sở thích của họ. Con đường “Minh sư” đó thực chất là Đại Ngã luận (Atta-vāda).

Ariya Vijjā (Thánh Minh Tuệ) chỉ dùng để chỉ Đạo Tuệ và Quả Tuệ. Nó phải dựa trên nền tảng của Giới hạnh chân chính mới đạt được. Dù ở góc độ thị hiện thần thông có vẻ tương tự, nhưng ngay từ nền tảng đã hoàn toàn khác biệt. Nếu cứ ôm giữ sự chấp thủ vào cái Tôi (Attavādupādāna) mà hành theo con đường sai lạc Loke-yata (mở rộng luân hồi) để kéo dài tuổi thọ và thị hiện thần thông, thì sự hiểu biết về Giáo pháp (Pariyatti) càng ít bao nhiêu thì...
