## TRANG 358


Đang chiêm bái như vậy.

Tin đồn đó từ đâu mà ra?

Vào lúc đó, tùy theo tình cảnh, Ngài chỉ thuyết giảng về giáo pháp Thiền Minh Sát (Vipassanā). Ngài cũng thường xuyên thuyết giảng về đại bổn sanh **Bhisajātaka**.

**Bhisajātaka** (Bản sanh Ngó Sen) là câu chuyện về công tử của vị trưởng giả thành Bārāṇasī tên là **Mahākañcana**, người đã cùng sáu người em trai và một người em gái vào rừng xuất gia làm đạo sĩ. Một người bạn và những người giúp việc - cả các cặp vợ chồng cũng đi cùng. Họ thay phiên nhau đi tìm những gốc sen (ngó sen) và các loại hoa quả, rồi chia phần ra để sinh sống. Thiên chủ Sakka (Đế Thích) vì muốn thử lòng tu hành và giới hạnh của họ, nên đã giấu kín phần ngó sen của vị đạo sĩ anh cả suốt ba ngày liền.

Mọi người nghi ngờ có ai đó đã lấy trộm để ăn, nên mỗi người lần lượt thề độc rằng:

"Nếu tôi trộm lấy gốc sen này, xin cho tôi có vợ con, hầu cận, tài sản cực kỳ giàu sang phú quý." Một người khác thề: "Xin cho tôi trở thành vị quốc vương thống trị đất đai non sông." Có người lại thề: "Xin cho tôi trở thành vị Chánh cung Hoàng hậu." Lại có người thề: "Xin cho tôi nhận được chức vị quốc sư (Purohita) cai quản việc nước." Người khác lại thề: "Xin cho tôi trở thành một vị đạo sĩ có danh tiếng, được dân chúng ngưỡng mộ và có nhiều lợi lộc tại một ngôi làng gần thành phố."

Bởi lẽ họ coi sự hưởng thụ thế gian, quyền lực, chức quyền và lợi lộc là những thứ gây ra khổ đau, đáng sợ hơn cả một "cái chết xấu xí", nên họ đã lập những lời thề như vậy.

Vị đại thọ thần (Rukkhaso) sống gần hồ sen và am thất thì thề rằng:

"Nếu tôi trộm lấy gốc sen, xin cho tôi được cai quản một ngôi chùa lớn ở một vùng trù phú và bận rộn với các việc xây dựng (navakamma)."

Dựa trên việc Ngài thiền sư thường xuyên thuyết giảng bản sanh kinh này, người ta hiểu rằng Ngài đang bày tỏ sự nhàm chán đối với việc phải sống giữa đám đông và bận rộn với việc học thuật (Pariyatti). Ngài nhận thấy cái lỗi của việc trở thành một bậc thầy giảng dạy giỏi hay một nhà biên soạn giỏi. Nhiều lần Ngài đã tìm cách lánh vào rừng sâu nhưng không thành. Không những không được, mà kể từ thời gian này, Ngài lại trở thành một bậc thầy thuyết pháp lỗi lạc từ khi nào không hay. Không chỉ vì những tin đồn, mà cả những người thực lòng muốn nghe pháp cũng bắt đầu tụ về đông đúc.

Ngài đã không thể tránh khỏi việc gặp phải những ngã rẽ gây ra sự suy giảm (**hānabhāgiya**) trong công việc thực hành (Paṭipatti). Đối với các hành giả, những sự việc và trạng thái đó thường diễn ra theo một chuỗi mắt xích được sắp đặt tinh vi nên rất khó nhận biết; và dù có biết đi chăng nữa thì cũng cực kỳ khó vượt qua.

## TRANG 359

Sở dĩ như vậy là vì những sự việc đó thường được đặt trên nền tảng hướng tới lợi ích của Giáo pháp và đại đa số chúng sinh, hơn nữa nó lại phù hợp với năng lực, bản tính tự nhiên của bản thân và là loại công việc mà mình ưa thích. Do đó, dù biết rõ đó là điều gây chướng ngại (palibodha), là sự suy giảm (**hānabhāgiya**), nhưng người ta vẫn cứ dấn thân vào.

### Sự hỗ trợ (hoặc sự quấy nhiễu) của những bậc có thần thông

Vào hạ năm 1263-64 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại núi Shwe Taung Oo, nằm ở bờ sông Chindwin (Thallāvatī), phía tây thị trấn Alon. Vị đồ đệ **Ledi Paṇḍita**, người đã theo Ngài được ba năm hạ, cũng đi theo nhập hạ. Ngài Thiền sư dành cho **Ledi Paṇḍita** một tình cảm thương mến sâu nặng như con ruột.

**Ledi Paṇḍita** và vị hộ tăng (kappiya) trú ngụ ở chân núi, còn Ngài Thiền sư thì trú trong một hang đá lớn trên đỉnh núi. Vùng đó đồ ăn thức uống vô cùng khan hiếm. Không hề có cơm gạo. Họ chỉ được dùng cơm kê hoặc cơm cỏ lúa (lu-san). Sau khi đi bát về, Ngài Thiền sư dùng bữa ngay tại chân núi, đoạn đem phần còn lại rải cho các loài vật ăn một cách hoan hỷ.

**Ledi Paṇḍita** vì không ăn nổi loại cơm đó nên phải gom góp các nhu yếu phẩm từ các thí chủ trong thành phố, từ gạo, dầu cho đến các thứ khác. Ngài Thiền sư vốn thường tán dương và thuyết giảng về hạnh tri túc, giản dị cho "người con trai" của mình, nên vị đồ đệ phải giấu kín những thứ đó không để Ngài biết.

Một ngày nọ, Ngài Thiền sư phát hiện ra, liền quở trách: "Này hiền giả nhỏ, con không giống một vị tăng ở rừng chút nào, con quá chiều chuộng cái lưỡi của mình rồi." Nói đoạn, Ngài dùng gậy chọc vào lều chứa lương thực dùng cho bếp núc và hất tung mọi thứ ra.

Chính vì Ledi Paṇḍita có thiên hướng mạnh về học thuật (Pariyatti) mà còn xa rời nền tảng thực hành (Paṭipatti), nên Ngài Thiền sư vì lòng bi mẫn mà đã khởi lên sự phẫn nộ đầy lòng thương. Ngài còn viết bài thơ "Tê dắt đi đâu" để giáo huấn. Trong thời gian ở đó, Ngài cũng răn dạy hai cư sĩ là U Tun Oo và U Tun Hla từ thị trấn Alon - những người giỏi luận bàn về thực tại (Paramattha) nhưng mỗi khi được bảo thực hành thiền (Kammaṭṭhāna) thì lại tìm cách thoái thác.

Trong hang đá trên núi đó, Ngài đã nỗ lực thực hành thiền mãnh liệt suốt bốn, năm tháng. Ngài ở lại đó tổng cộng hai năm và biên soạn các tác phẩm **Dhamma Dīpanī**, **Āhāra Dīpanī**, và **Anatta Dīpanī**. Trong thời gian này, Ngài vẫn thực hành thiền Anāpāna (Sổ tức), và mức độ thành tựu của Ngài đã được thể hiện rõ nét qua chính những tác phẩm Dīpanī này.

## TRANG 360

Trong lúc đang nỗ lực thực hành mãnh liệt tại đây, một cơn sốt nặng đã ập đến khiến Ngài nằm một mình trong hang đá lớn, lúc tỉnh lúc mê. Ngài không thể xuống chân núi để báo tin. Mấy ngày trước Ngài vẫn cố gắng gượng dậy đi bát, nhưng hôm đó thì không thể đi nổi nữa. Ngài nằm chịu trận, xoay xở suốt một ngày một đêm. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Ngài cảm giác như có ai đó cho mình uống thuốc, khi vừa tỉnh dậy, Ngài cố gắng mở mắt nhìn quanh hang đá thì thấy ở một góc cua có một vị mặc đồ trắng đang đứng yên lặng nhìn mình như một pho tượng đá trắng. Do đang trong tình trạng lờ đờ nên Ngài không kịp hỏi han gì, rồi mắt lại nhắm nghiền lại.

Sáng hôm sau, các thí chủ từ làng đi bát tìm đến chùa rừng, thỉnh Ngài về làng để chữa bệnh. Ngài truyền rằng: "Hãy đưa ta đến thị trấn Monywa là được." Họ bèn dùng ghế dựa làm cáng khiêng Ngài đến chùa của U San Chain (**U Ñāṇavaṃsa**) ở thị trấn Alon. Ngay khi vừa được đặt lên ghế, Ngài bỗng trở lại bình thường như người khỏe mạnh, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Tuy nhiên, sau đó Ngài lại lịm đi, suốt quãng đường leo núi xuống đèo dài một dặm, Ngài không hề hay biết gì, cứ như đang ngủ mê khiến ai cũng lấy làm lạ không hiểu nổi. Khi về đến Alon và đặt cáng xuống, Ngài lại tỉnh dậy như một người bình thường. Khi được bạch lại sự tình, Ngài phán: "Hèn chi... đêm qua dường như có một người mặc đồ trắng đi theo."

Đối với những bậc hành giả (yogāvacara) lớn như vậy, không một nguyên cớ nào có thể làm giảm sút tinh thần của các Ngài. Tuy nhiên, đôi khi thể xác lại trở nên suy nhược, và vào những lúc như vậy, các chướng ngại như ảo tượng hay giấc mơ thường có cơ hội len lỏi vào. Cần phải đặc biệt cẩn trọng trong việc ăn uống và sinh hoạt. Thông qua những sự sắp đặt tinh vi, các yếu tố vật chất có thể thâm nhập và khiến cho cái thân không đau trở nên đau đớn.

Ngay trong đêm Ngài Thiền sư trở về tự viện Ledi ở Monywa, Ngài đã thấy một giấc mơ lạ thường. Trong mơ, Ngài ngồi trên đỉnh núi Yugandhara, lưng tựa vào núi Meru (Sumeru), nhìn thấy toàn bộ tam thiên đại thiên thế giới xanh tươi rạng rỡ. Ở một ngọn núi phía đông, bên trong một hang bảo tháp rực rỡ ánh sáng, có đủ loài chim đang vui đùa bay nhảy. Ngài hỏi những con chim đó rằng:

"Tại sao các ngươi lại vào trong cái hang rực lửa như thế này? Các ngươi không thấy nóng sao?"

Chúng trả lời: "Chúng tôi vào trong hang của Ngài là để được mát mẻ và an lạc." Một lát sau, Ngài mơ thấy chính thân thể mình biến thành núi Meru hùng vĩ. Ngài giải mã giấc mơ rằng: "Mình sẽ phải đi khắp đất nước để hoằng dương Giáo pháp."

Trong kinh **Mahāsupina Sutta** thuộc **Pañcaṅguttara Pāḷi** (Tăng Chi Bộ), có ghi chép rằng trước khi thành đạo, Bồ-tát đã mơ thấy mình lấy mặt đất làm giường, lấy núi Meru làm gối nằm ngủ, v.v.
