## TRANG 373

Ngài cảm thấy thương xót cho chúng sinh. Dù không được thỉnh mời từ thành phố này sang thành phố khác, Ngài vẫn vân du không ngừng nghỉ. Riêng tại thành phố Mandalay, vào những tháng thường xảy ra dịch bệnh, Ngài cố ý ở lại canh chừng để bảo vệ dân chúng. Từ trên pháp tòa, Ngài cất giọng vang rền: “Các con có nghe tiếng chó sủa không? Hãy lắng nghe đi. Ta sẽ khiến mưa sỏi đá, mưa gạch ngói đổ xuống (để xua đuổi tà ma). Nếu ai nằm mộng thấy điều gì lạ, hãy đến thưa với Ta. Bất kể thành phố hay làng mạc nào có người ngã bệnh, hãy lập tức đến thỉnh Ta ngay!” Ngài dõng dạc tuyên bố và mời gọi như thế. Tại mỗi thành phố Ngài đặt chân đến, bệnh tật đều được tiêu trừ một cách kỳ diệu. Sự chữa lành đó không chỉ đến từ giới đức và định lực của Ngài, mà còn nhờ vào phước báu Ba-la-mật hộ trì bệnh nhân (*Nibaddha-gilāna-vatta*) — một thiện nghiệp mà Ngài đã thực hiện không mệt mỏi, không ghê tởm, chăm sóc người bệnh như con đẻ ngay từ khi Ngài còn trẻ.

Về việc tụng đọc kinh an lành (*Paritta*) và kinh Yết-ma (*Kammavācā*) để ngăn chặn tai ương, Ngài thường dạy rằng:

“Khi tụng để cầu phúc lành, cần tụng giọng dịu dàng, dễ nghe. Nhưng khi tụng để ngăn chặn và xua đuổi nguy hiểm, tuyệt đối không được tụng với giọng rên rỉ, yếu ớt. Phải tụng một cách quyết liệt, mạnh mẽ, với giọng uy lực như đang khiển trách. Thậm chí đối với kinh Yết-ma, không được dùng bản chép trên giấy thường. Phải cầm bản kinh sơn son thếp vàng, chữ viết bằng hạt me mà tụng. Có thế thì bọn ma quỷ, ác sâm mới kinh hãi chạy trốn.”

Trong những buổi lễ như vậy, điều Ngài không hài lòng nhất là việc các vị sư có ăn thịt bò tham gia tụng đọc.

Ngài nói: “Này, cái miệng vừa ăn thịt bò xong mà lại tụng *‘Suṇātu me bhante saṅgho’* (Bạch Đại đức Tăng, xin hãy nghe tôi). Mùi thịt bò nồng nặc xông xa cả dặm, lũ quỷ dữ cứ theo làn khói mùi thịt bò đó mà tìm đến thôi.” Thật là một lời dạy đáng ghi nhớ.

Ngài đã thành công vang dội trong việc ngăn chặn và xua đuổi các đại dịch, khiến người dân hết lòng nương tựa. Ngài luôn giữ vững tâm nguyện, giới hạnh, lòng bi mẫn, định lực và sự tinh tấn giống như Ngài Trưởng lão Ānanda, vị đã cứu độ kinh thành Vesālī khỏi ba tai ương bằng cách tụng kinh Ratanasutta suốt đêm. Ngài Ledi Sayadaw hễ làm là thành tựu, và vì sự hiệu nghiệm đó mà Ngài luôn xả thân cứu giúp.

Có thể nói Ngài như đang chơi trò đuổi bắt với các cơn đại dịch. Công việc cứu độ chúng sinh là vô cùng cao quý, nhưng cũng rất khó thực hiện. Loại công việc này tuy đối với các hành giả chưa hoàn tất phận sự sa-môn là cao thượng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ. Nó có thể trở thành công việc thuộc về phần thoái đọa (*Hānabhāgiya*).

Điều này cũng giống như một người có được phương thuốc trị bệnh hủi (phong cùi) thần hiệu, tự mình điều chế và uống thì mới khỏi được một nửa, nhưng vì lòng bi mẫn thôi thúc quá mạnh, lại thấy có nhiều bệnh nhân và bản thân cũng có sẵn tiền bạc, nên đứng ra làm thầy thuốc chữa bệnh hủi. Nếu nói như vậy thì có lẽ không sai biệt so với ý chỉ của Đức Phật. Trong lộ trình tu tập thực hành (*Paṭipatti*), thật khó để nhìn ra và tránh khỏi những mắt xích trách nhiệm phụ trội

## TRANG 374

thường phát sinh như vậy. Những hành giả muốn làm một vị thầy lớn thường lấy làm hài lòng với những việc đó.

Đế quốc của Ma vương vốn rộng lớn và đầy mưu chước. Hắn có thể giăng bẫy bằng cách tung ra những mồi nhử tinh vi. Một con ngựa dù chạy nhanh nhưng nếu bị buộc thêm chì vào chân thì cũng phải chậm lại. Công việc cứu độ, nếu có khả năng mà không làm thì không tròn lòng bi mẫn; nhưng nếu làm thì công việc chính yếu (Pháp hành thiền) sẽ bị ảnh hưởng, đó quả là một thế kẹt khó toàn diện.

Các vị Phật không màng đến những vấn đề mang tính chất cạm bẫy như vậy, các Ngài luôn an nhiên đứng vững trên con đường chân lý Trung đạo (*Majjhima-paṭipadā*) bằng sự im lặng thánh thiện. Này các bậc thiện tri thức, hãy suy xét và thực hành với sự dẫn dắt của trí tuệ.

Tại đây, những dấu hiệu, điềm chiêm bao, cho đến những lá bùa, chú thuật, linh phù... chẳng phải là những manh mối cho thấy sự ràng buộc của các nghiệp duyên hay sao? Việc bị quật ngã sau khi đã được tôn vinh lên cao thường đau đớn hơn nhiều so với việc bị dẫm đạp khi đang ngồi dưới đất.

Có lẽ chúng ta chỉ có thể tự an ủi rằng: Vì nhìn thấy việc thực hiện những Phật sự đó sẽ giúp danh tiếng vang xa hơn, từ đó dẫn dắt được nhiều chúng sinh hữu duyên đạt đến giải thoát, nên dù biết đó là sự chướng ngại, Ngài vẫn dũng mãnh dấn thân thực hiện.

### Đền ơn Đức Phật

Từ năm 1279 (Miến lịch), Ngài bắt đầu tạm ngừng việc vân du thuyết pháp khắp các vùng. Ngài nhận thấy đó cũng là một loại chướng ngại (*Palibodha*). Tuy nhiên trên thực tế, thật khó để tránh khỏi hoàn toàn. Với tính cách của Ngài, bất kể công việc gì Ngài cũng thực hiện với sự kiên trì, tận tụy và quyết tâm cao độ.

Tôi còn nhớ một lời Ngài từng dạy vị Thủ khoa (*Paṭhamakyaw*) U Paññāsīha (U Gyi Pe) liên quan đến một công việc nọ:

“Này con, Maung Paññāsīha. Khi định làm một việc gì, bản thân con phải suy xét thật kỹ trước, rồi tham vấn với những bậc có tầm nhìn xa trông rộng, vì mình dễ lầm lẫn lắm. Này, suy xét và tham vấn xong chưa? Nếu xong rồi thì hãy làm đi. Đã làm thì đừng có suy tính kiểu ‘chết rồi, sai rồi’ nữa. Đừng bận tâm đến ai nói gì, cứ dấn tới mà làm. Có sai thì cứ làm, càng làm càng sai, sai mặc kệ sai, cứ làm đi. Tiếp tục làm đi con. Chính trong khi làm, con sẽ tìm thấy cái đúng.”

Lấy phương châm “Muốn làm thì cứ làm, không được thối lui; chuyện gì đến cứ đến, đừng có nản lòng”,

## TRANG 375

lời giáo huấn của Ngài thật đanh thép và sắc bén. Bản thân Ngài cũng luôn hành động theo đúng tôn chỉ này trong mọi việc. Một khi đã quyết định làm, Ngài không bao giờ lùi bước. Quả là một bậc đại trượng phu. Ngay cả trong cách nói năng:

“Này Maung Waṇṇita, khi nói hay viết, không được dùng những lời lẽ yếu ớt, rên rỉ, rỗng tuếch không có thực chất. Phải nói, phải viết một cách chắc chắn, tròn đầy và súc tích.” Ngài đã dạy như vậy.

Với tinh thần quyết liệt đó, những gì Ngài thực hiện đã có tầm ảnh hưởng lan rộng khắp thế giới. Danh tiếng của Ngài vang xa khắp năm châu. Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ thực hành (*Paṭipatti*), Ngài cũng thấu thị rằng một số công việc có thể trở thành chướng ngại (*Palibodha*) và gây ra những tì vết cho tuệ quán (*Vipassanupatti-lesa* - những uế nhiễm của Vipassanā).

Vào năm 1279, Ngài an cư tại chùa Ledi. Sau khi mãn hạ, Ngài nói với các đệ tử và thí chủ thân cận:

“Này các đệ tử, suốt hai mươi năm ròng, ta đã vân du khắp vùng Thượng và Hạ Miến Điện để thuyết pháp, vì lòng thương tưởng muốn chúng sinh thấu hiểu được ánh sáng của Danh và Sắc. Ta đã hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện công việc thuyết pháp đầy chướng ngại này. Nay ta vẫn còn tâm nguyện muốn đền đáp ân đức của Đức Thế Tôn, nên ta sẽ vào rừng Kyee-pin-gyi tĩnh mịch để tu tập. Chỉ có Maung Waṇṇita và một người hộ tông đi theo ta mà thôi.”

Nói đoạn, vào ngày cuối tháng Thadingyut (tháng 7 Miến lịch), Ngài rời chùa Ledi và đi vào khu rừng phía đông thị trấn Alon.

Bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng Tazaungmon cho đến ngày cuối tháng Tabaung, tổng cộng là năm tháng tròn. Công việc đền ơn này bao gồm việc tụng niệm cúng dường đại kinh Quy y (*Mahā-saraṇagam*) gồm 483 câu, trải dài trên 34 trang giấy khổ lớn, thực hiện liên tục không ngừng nghỉ, không ngủ nghê (đã có sách hướng dẫn phương pháp đền ơn này).

Đó là bản văn xoay quanh Tam Bảo kết hợp với các đức tính của Tứ Thánh Đế và Niết-bàn. Ví dụ: *“Catusacca paṭivedha pariyantaṃ Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi”* (mở đầu)... *“Sabbavipākavaṭṭa dukkhakkhaya nibbānadhatu sacchīkaraṇa pariyantaṃ Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi”* (kết thúc).

Trong suốt năm tháng tụng niệm cúng dường không ngủ đó, mỗi ngày Ngài tụng được 14.400 biến. Tổng cộng sau năm tháng, số lần tụng niệm đạt đến 2.116.800 biến. Thật là một bậc có sự tinh tấn vô song.

Dẫu nói rằng thời gian tụng niệm không ngủ là năm tháng, nhưng kể từ khi khởi ý nguyện đền ơn này, không biết Ngài đã mất bao nhiêu thời gian để suy tư, trăn trở và chấp bút viết nên bản đại kinh Quy y đó. Một khoảng thời gian dài đằng đẵng như thế, 
