## TRANG 379

“Tại hạ và các vị vẫn còn rất nhiều Phật sự cần chung tay gánh vác để xiển dương giáo pháp Pariyatti. Nếu đã ngoài năm mươi mà tâm chưa khởi sinh sự kinh cảm (saṁvega) thì ta sẽ thuyết giảng cho. Bây giờ, hãy nỗ lực hoàn thành bộ đại từ điển Pāḷi này đi đã,” Ngài dạy như thế.

Bộ đại từ điển Pāḷi này được khởi soạn từ năm 1278 (Miến lịch) với sự hỗ trợ của hơn ba trăm đệ tử thông tường cổ ngữ, chia làm bốn phần. Trong quá trình thực hiện, dự án đã đối mặt với muôn vàn khó khăn. Sau hành trình ròng rã hai mươi năm, đến năm 1298, bộ từ điển đã thành hình với 1134 trang, gồm bốn tập đại thư. Về sau, do nhiều duyên sự khác nhau, công trình vĩ đại này đã phải tạm dừng. (Hiện nay, phần việc còn dang dở đang được Hội Phật giáo tiếp tục triển khai, và chắc chắn trong tương lai gần, một bộ đại từ điển Pāḷi hoàn chỉnh sẽ sớm ra đời tại Myanmar.)

Nhờ ân đức của Ngài mà Hội Pāḷi Text Society tại Anh quốc cũng đã hoàn thành bộ Từ điển Pāḷi-Anh (1921-25). Các công trình như Concordance to the Pāḷi Tipiṭaka hay Critical Pāḷi Dictionary (1952) cũng đã và đang tiếp tục được xuất bản.

Thực tế mà nói, các công trình từ điển Pāḷi đang được thực hiện trên khắp thế giới ngày nay không sai khi gọi là di sản mà Ngài đã gieo mầm. Thậm chí cho đến tận bây giờ, Hội Pāḷi Text Society ở Anh vẫn đang thỉnh cầu sự trợ giúp từ các bậc trưởng lão uyên thâm tại Myanmar để chuyển ngữ các bản Chú giải (Aṭṭhakathā) sang tiếng Anh. Những ai tại Myanmar cho rằng “chỉ khi đọc Phật pháp bằng tiếng Anh mới hiểu thấu” thật sự cần phải suy ngẫm lại nguồn cội của vấn đề này.

..

Ngay cả cặp vợ chồng học giả Pāḷi lừng danh Âu châu là Rhys Davids (được mệnh danh là các vị thiên nữ Pāḷi của London) thì niềm tin và cách tiếp cận Phật giáo của họ cũng chưa thực sự kiên định, các tác phẩm của họ đôi khi vẫn còn sự chông chênh. Họ đã dành cả cuộc đời để cố gắng uốn nắn, khiên cưỡng đưa giáo lý Vô ngã (Anatta) vào cái khuôn đúc của cái Ngã trường tồn (Atta) vốn hoàn toàn đối nghịch.

### Bậc Đại Nhân với Thần Lực Tùy Tâm

Liên quan đến việc thực hành (Paṭipatti), các bậc xuất gia thường giữ vô cùng kín đáo. Đó chính là đức hạnh thiểu dục (appicchatā). Hơn nữa, giới luật cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề này. Đôi khi, mọi người chỉ biết được đôi chút thông qua các thị giả thân cận. (Về khả năng thấu thị tâm người khác, xin xem ở chương về Ngài Nibbinda Sayadaw. Về khả năng viết lách trong đêm tối không cần đèn, xin xem ở chương về Ngài Thegyut Taung Sayadaw.) Những người đệ tử có đủ khả năng nhận diện được thực lực của bậc Thầy cũng rất hiếm; và những người

## TRANG 380

thành thật, ngay thẳng, không thêu dệt theo đức tin cá nhân lại càng hiếm hơn nữa.

Ở đây, chúng ta có thể được biết và khởi tâm tịnh tín về một phần năng lực tu chứng của Ngài thông qua lời kể của cư sĩ Sayagyi U Thet (thường gọi là Pyawbwe Sayagyi). Ông là người đã từng theo Ngài lặn lội khắp các cánh rừng để hành thiền suốt mười năm ròng. Chắc chắn rằng lời kể của ông không hề có sự thêu dệt hay phóng đại, bởi ông vốn nổi danh là một bậc thánh quả A-na-hàm (Anāgāmī). Chính Ngài Sayadaw đã từng bảo các vị Tăng trong chùa đến học đạo với cư sĩ U Thet. Ông là vị đại đệ tử được Ngài đặc biệt tin cậy và quý trọng.

Có một lần, khi ông đến đảnh lễ Ngài...

“Bạch Thầy, trong số các đệ tử của Thầy, con là người kém cỏi nhất về học thuật kinh điển (Pariyatti). Theo lời dạy dạy của Thầy, công cuộc hoằng pháp hướng dẫn thiền định (Kammaṭṭhāna) là một Phật sự vô cùng tinh tế và đại sự. Do đó, khi nào con có điều chi cần thưa hỏi, xin Thầy hãy hoan hỷ lân mẫn quang lâm chứng dự, làm nơi nương tựa và ban lời giáo huấn cho con,” ông thưa như vậy.

Ngài liền ban lời khích lệ: “Ngay cả đến lúc ta nhập Niết-bàn, ta cũng sẽ không bỏ mặc con đâu.” (Ý nghĩa của những lời đối thoại này vô cùng sâu sắc, chỉ có Ngài và cư sĩ U Thet là thấu hiểu trọn vẹn.)

Ngày nay, có rất nhiều trung tâm thiền đang giảng dạy theo phương pháp của cư sĩ Sayagyi U Thet, như: Thiền viện Hanthawaddy (Yangon), Naung-na-sar-gi Reiktha, Thiền viện Ledi Mu, Thiền viện của Sayagyi U Ba Khin (Inya Myaing), và Thiền viện Mahabodhi (Mandalay), v.v.

Trong số rất nhiều câu chuyện về Ngài được lưu truyền qua cư sĩ U Thet, tôi xin được trích dẫn hai điểm tiêu biểu.

Một ngày nọ, Sayagyi U Thet đã kể cho các thiền sinh của mình là Daw Phwar Yin (chị của U Ba Soe) và người cháu là U San Aye (hiện vẫn còn sống) về việc Ma vương thường đánh lừa hành giả như thế nào thông qua trải nghiệm thực tế của chính ông. Khi đó, vị tên là U Ba Soe mỗi khi vào thiền đều gặp các chướng ngại như tiêu chảy, phát sốt, chóng mặt; cuối cùng chỉ khi vừa đi vệ sinh vừa niệm mới có thể hành trì được. Câu chuyện được kể để ám chỉ trường hợp đó, và trong đó có một tình tiết liên quan đến Ngài Ledi Sayadaw vô cùng hy hữu, gần như khó tin.

Một lần nọ, theo lời thỉnh mời của ông chủ đồn điền cao su U Boe Thin ở thị trấn Shwegyin, cư sĩ U Thet đã đến hướng dẫn thiền nhiều ngày tại một giảng đường ở đó. Lúc bấy giờ, Ngài Ledi Sayadaw đang cư ngụ tại Monywa. Trong thời gian này, Sayagyi U Thet gặp rất nhiều sự quấy nhiễu từ các hạng thiên ma, thổ thần (nat). Tuy nhiên, Ma vương không bao giờ có thể thắng được bậc Giác Ngộ. Một buổi chiều nọ, Sayagyi đi bộ ra ngoại thành, càng đi ông càng bị lạc đường.

## TRANG 381

Càng đi cảnh vật càng hoang vu, rừng rậm bủa vây, khiến ông không thể đi tiếp mà phải ngồi xuống dưới một gốc cây đa. Mặt trời đã sắp lặn, không bóng người qua lại, đường về cũng chẳng rõ.

“À, đây chắc chắn là tác quái của bọn thuộc hạ Ma vương rồi. Chẳng lẽ ta không phải là người cầu giải thoát, mà lại là kẻ tham cầu thần lực để luân hồi sao? Thôi thì cứ lấy chuỗi ra mà niệm Phật thôi,” nghĩ vậy, ông rút xâu chuỗi trong túi ra và định tâm niệm danh hiệu Phật (Guṇadhore).

Chẳng bao lâu sau, ông chợt thấy một người phụ nữ đi kiếm củi ở gần đó nên rất đỗi vui mừng. “Nếu mình cứ chỉ chú tâm vào sự sinh diệt của danh sắc thì e rằng chẳng thể tìm đường về lại am được,” ông thầm nghĩ và mỉm cười cho cái ý định nhất thời của mình. Ông hỏi đường người phụ nữ và đi cùng bà ta. Một lát sau khi bà rẽ lối khác, ông còn phải thuê xe ngựa đi thêm một quãng dài nữa mới về tới nơi. “Chà, Ma vương này thật khéo bày trò, thay vì cho một người nam dẫn đường thì lại cho một người nữ đi cùng vào lúc hoàng hôn thế này,” ông vừa nghĩ vừa mỉm cười.

Tại giảng đường của U Boe Thin, dù trước đó đã gặp không ít sự quấy nhiễu và khó khăn nhưng ông đều vượt qua được. Tuy nhiên, việc bị lạc đường hôm nay khiến ông cảm thấy vô cùng áy náy. Đêm đó, sau khi dâng đèn cúng Phật và làm lễ bái, ông hướng về phương trời nơi Ngài Ledi Sayadaw đang ngự và đảnh lễ thưa rằng:

“Bạch Thầy kính mến, chuyện xảy ra với con hôm nay thật sự khiến con cảm thấy khó lòng kham nhẫn. Con đã lầm lỡ nương tựa vào sự nhận biết của nhãn thức và tưởng tri. Dù nhờ chút định tâm mà tìm được lối thoát, nhưng trong lòng vẫn chưa thấy thông suốt. Cúi xin Ngài ban lời giáo huấn để sau này con không còn gặp phải tình cảnh tương tự nữa.”

Ngay lập tức, Ngài Sayadaw bước vào phòng thờ Phật và ngồi xuống chỗ đã trải sẵn. “Này cư sĩ U Thet, mỗi khi gặp bất kỳ khó khăn hay tâm khởi sinh sự nghi ngại, điều đầu tiên cần làm là hãy tập trung rải tâm từ (Mettā) thật mạnh mẽ. Sau đó, cứ tiếp tục quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc (Rūpa-Nāma) như lộ trình vốn có,” dạy xong, Ngài liền rời đi.

### Trí Tuệ Như Sư Tử, Thành Tựu Lộ Trình Thiền Định

Câu chuyện sau đây cũng là một điều vô cùng huyền diệu. Đó là thời điểm Ngài đã tuổi cao sức yếu, lại thêm căn bệnh đau mắt trầm trọng do làm việc với kinh sách quá độ. Ngài đã đến vùng Bahan, Yangon để điều trị. Cư sĩ Sayagyi U Thet cũng từ làng Pyawbwe Gyi, Dala đến đảnh lễ thăm Ngài.

“À, là cư sĩ U Thet đó sao, thật quý hóa quá. Đừng về vội nhé. Nhân lúc các đệ tử xuất sắc tụ hội đông đủ, cũng đã lâu rồi ta chưa cúng dường cơm và hoa lên đại tháp Shwedagon. Cư sĩ hãy ở lại...”