## TRANG 382

"Chẳng phải vẫn còn hơi nhỏ sao?", Ngài phán như vậy rồi gửi thư báo tin về nhà và phải chờ đợi ở đó. Khoảng hai mươi ngày trôi qua. Lý do là vì để dâng cúng hoa và vật thực, các đại đệ tử cần một chiếc mâm đồng lớn có đường kính chín tạng (thông thường 1 tạng tương đương 0.5m), nên họ phải giao phó cho thợ đúc đồng thực hiện. Một chiếc lọng lớn chín tầng tương ứng với đường kính chín tạng cũng được may bằng lụa trắng và gắn thêm các tua rua.

Khi mọi thứ đã hoàn tất, trên chiếc mâm đồng lớn, họ chuẩn bị vật thực cùng với chín loại món ăn chay, chín loại trái cây, chín loại bánh và chín loại mứt; trên chiếc lọng chín tầng, mỗi tầng cũng được kết một loại hoa. Sau khi tất cả đã được sắp xếp xong xuôi, họ đến đảnh lễ trình báo lên Ngài Thiền sư.

Vào một buổi sáng lúc bốn giờ rưỡi, Ngài Thiền sư cùng với khoảng mười lăm đệ tử mang theo các món đồ lễ đi lên đỉnh đồi Shwedagon. Khi đến sân bảo tháp, tại một không gian trống trải không có mái che hay vật cản ở chân bảo tháp, các đệ tử vây quanh chiếc mâm đồng lớn, ngồi xuống và cùng nhau nâng giữ nó. Chiếc lọng chín tầng cũng được đặt lên trên mâm.

"Này các con, đây là một đại thí vô cùng nan đắc. Các con phải có tâm hân hoan với những công đức mà mình đã dày công chuẩn bị. Hãy hướng tâm một cách thanh tịnh, sâu sắc và nhiệt thành lên ân đức của Đức Thế Tôn. Các đệ tử đang giữ mâm cũng hãy giữ thật nhẹ nhàng, khi mâm nhấc bổng lên thì hãy thả lỏng tay và nương theo đó mà nâng lên. Giống như khi người ta thả đèn trời vậy," Ngài dặn dò như thế rồi tự mình dùng hai tay chạm vào chiếc mâm, nhất tâm hướng về Đức Phật. Tất cả đều im lặng.

Khoảng nửa giờ sau, khi ánh bình minh vừa ló dạng, các tua rua lụa trên lọng bắt đầu lấp lánh và tung bay một cách oai hùng. Chiếc mâm đồng đặt trên lòng bàn tay cũng từ từ nhấc bổng lên, khiến mọi người phải nương tay theo để đỡ. Những người khiêng mâm đang ngồi cũng phải đứng dậy để giữ. Họ giơ tay cao hết mức có thể, và rồi chiếc mâm đồng chín tạng cùng chiếc lọng chín tầng từ từ bay vút lên bầu trời bao la. Chiếc lọng lụa lấp lánh dưới ánh rạng đông trông đẹp đẽ và thanh khiết như một bảo tháp bạc. Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng, dõi mắt nhìn theo cho đến khi mất hút. Chỉ đến khi không còn nhìn thấy gì nữa, họ mới rời khỏi sân tháp Shwedagon để đi xuống.

Về phần Ngài Thiền sư, Ngài đã đọc bài thơ *Tey-htat* (thể thơ bốn đoạn) cho cư sĩ Saya Thet Gyi và các đệ tử đi cùng nghe: "Vào thời cuối của giáo pháp, chúng sinh ra đời nối tiếp nhau... Nhờ năng lực của trí tuệ mãnh sư, con đường thiền định đã hoàn tất, làm chủ trọn vẹn năm pháp tự tại (*vasībhava*)." Những tình tiết này được ghi lại đúng theo lời kể của cư sĩ Saya Thet Gyi.

## TRANG 383

Các bậc Thánh nhân thực hành theo đúng giáo pháp bất khả tư nghì của Đức Phật bất khả tư nghì, nên năng lực Giới, Định, Tuệ của các Ngài cũng là bất khả tư nghì. Kẻ ăn xin không thể nào hình dung nổi sự uy nghiêm và phước báu của một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Người thấy rõ thì thấy cả người thấy và người không thấy. Người không thấy thì chẳng thể thấy được dù là người thấy hay người không thấy. (**Trích kệ ngôn của Trưởng lão Vappa.**)

### Chư thiên thỉnh mời – Đất rung chuyển – Chuyến hành trình cuối cùng

Ngài Thiền sư chỉ ở lại hạ tại trú xứ Ledi (Monyway) khoảng 13 hạ theo kiểu đi rồi lại về. Những hạ còn lại, Ngài lưu trú tại các địa điểm rừng núi đã nêu và các nơi như: thị trấn Myingyan, Minhla (Phan-tan Taw-ya), Thapaung, chùa Nyaung-kon ở Yangon, Kyaik-waing, Ledi San-kyaung ở Mandalay, San-kyaung và tự viện Jetavan ở đồi Sagaing, thị trấn Myittha, mỏ khoáng sản Katun, v.v.

Từ năm 1283 (Dl. 1921), Ngài ở lại thị trấn Pyinmana nhiều nhất. Lúc này Ngài đã già yếu, sức khỏe không còn tráng kiện như xưa. Dù sắc diện vẫn luôn rạng rỡ, vàng sáng nhưng da dẻ đã bắt đầu nhão đi. (Tổng số hạ Ngài cư ngụ tại các trú xứ rừng núi — *Aranyavāsi* — là 21 hạ).

Hạ năm 1285 (Dl. 1923), Ngài lưu trú tại tu viện của ông bá hộ U Lann và bà Daw Ma Ma Lay ở Pyinmana. Lúc này Ngài đã 77 tuổi, và đây là năm sức khỏe của Ngài suy giảm nghiêm trọng nhất. Bắt đầu từ khoảng tháng Nayon (tháng 5-6) năm đó, thân xác Ngài dần suy sụp và rệu rã; dù đã dùng nhiều loại thuốc khác nhau nhưng cũng chỉ thuyên giảm được đôi chút.

Dù đang trong tình trạng lâm trọng bệnh như vậy, Ngài vẫn dõng dạc tuyên bố: "Này con, Dhammacārī! Bây giờ ta sẽ viết những đúc kết về Níp-bàn. Nếu viết được ngay bây giờ, nó sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều so với những pháp về Níp-bàn trước đây. Mong sao việc ăn uống được điều độ để ta có thêm sức lực." Thân hình Ngài lúc này chỉ còn thoi thóp.

Dù đã dành một phần tư quãng đời mình cho việc viết lách, Ngài vẫn chưa thấy thỏa mãn. Ngài Thiền sư đã phá vỡ mọi kỷ lục của các bậc giáo thọ sư soạn phẩm. Ngài đã viết từ những bài học vỡ lòng (*Thin-bong-gyi*) cho đến pháp tối thượng Níp-bàn rồi còn gì.

Đến tháng Waso (tháng 6-7), tình trạng càng trở nên tồi tệ hơn. Dù Ngài chưa từng nói "ta đang không khỏe", nhưng các đại đệ tử từ khắp nơi đã bắt đầu lục tục kéo về.

Có Ngài U Tiloka ở đồi Thay-kyut, Ngài U Paduma, Ngài U Vaṇṇita, và cư sĩ Ledi Pandita U Maung Gyi... v.v.

"Nếu ta có lâm bệnh, hãy tụng bài kinh *Paṭṭhāna Pañcāvāra* lớn trong Tạng Vi Diệu Pháp cho ta nghe.

## TRANG 384

Ta muốn được lắng nghe âm thanh của kinh *Paṭṭhāna*," nghe lời phán trước đây của Ngài, các đại đệ tử cùng nhau bàn bạc nhỏ nhẹ.

Một ngày trước khi kết thúc tháng Waso đầu tiên (năm đó có hai tháng nhuận Waso), trong lúc Ngài Thiền sư đang dùng trà, một trận động đất xảy ra làm rung chuyển cả tu viện. Ngài hỏi các đại đệ tử: "Việc này có ý nghĩa gì, các con có biết không?". Trong lúc tất cả đều im lặng, Ngài phán rằng: "Đó là lời thưa rằng: Việc thuyết giảng pháp Vi Diệu ở nhân gian đã đủ mãn nguyện rồi, giờ đã đến lúc phải đến thuyết giảng cho chư Thiên và Phạm Thiên."

Thiền sư Mohnyin nhận được điện tín cũng đã đến Pyinmana. Ngài dùng trán chạm vào chân của Thiền sư Ledi và đọc to tác phẩm "Anatta-dīpanī" (Minh sát về Vô ngã) do Ngài soạn.

"Phải, tốt lắm con ạ. Khi nghe pháp về Vô ngã này, ta như nhìn thấy hình bóng Đức Cha lành (Đức Phật) đang thuyết kinh Vô Ngã Tướng (*Anattalakkhaṇa Sutta*) và lòng tràn đầy niềm tịnh tín. Cảm giác như chính Đức Thế Tôn đang ngự đến đây vậy. Ta nghe như vang bên tai tiếng Đức Thế Tôn đến ngự ở đầu giường và phán rằng: 'Này người con yêu quý, con đã thuyết giảng xong ở nhân gian rồi, giờ đã đến lúc đi thuyết cho chư Thiên và Phạm Thiên'. Phải rồi, nếu ta không còn nữa thì cũng đừng nản lòng, đã có những lời dạy trong sách của ta đây. Hãy cố gắng duy trì giáo pháp Minh sát (*Vipassanā Sāsana*) này cho thật tốt." Ngài dặn dò như vậy.

Vào đúng 12 giờ trưa ngày rằm, đất lại rung chuyển một lần nữa. Lúc đó, đích thân Ngài Thiền sư truyền lệnh cho các đệ tử như Ngài U Tiloka bắt đầu tụng kinh *Paṭṭhāna*. Bốn vị đại đệ tử thay phiên nhau tụng. Đến 2 giờ 30 phút chiều, khi bài kinh *Pañcāvāra Pāḷi* vừa kết thúc, cũng là lúc âm thanh kinh *Paṭṭhāna* vừa dứt, thần thức của Ngài Thiền sư cũng đồng thời diệt tận (viên tịch). Một sự trùng hợp đến kỳ lạ.

Năm đó, Ngài nói Ngài sẽ đi đâu đây? Bảy ngày sau, kim thân của Ngài được di dời từ tu viện của ông U Lann sang Ledi San-kyaung (nay là chùa U Ñeyya). Trận động đất thứ ba lại xảy ra. Một cây xoài già khô héo cạnh cầu thang tu viện, vốn đã rụng hết vỏ sần sùi, đột nhiên trong ngày hôm đó lại đâm chồi nảy lộc xanh tốt và nở hoa rực rỡ khắp cả cây như đang trong lễ hỏa táng tháng Tabaung (tháng 3) vậy, quả là một điều hiếm thấy.

Theo tục lệ thường xảy ra khi các vị cao tăng viên tịch là sẽ có sự tranh giành kim thân, các đệ tử và thí chủ từ Monywa đã kiên quyết đến xin rước kim thân Ngài về. Người dân Pyinmana không đồng ý, họ phải bố trí cảnh sát canh giữ. Các đệ tử từ Monywa đã mời cả người em ruột của Ngài là Ngài U Kitti cùng đi để xin rước kim thân. Khi đó, một vị luật sư ở Pyinmana tiến đến gần kim thân và thưa với Ngài U Kitti rằng: "Bạch Ngài, chúng con tổ chức cúng dường trang nghiêm thế này, Ngài có thấy hài lòng không ạ?". Ngài U Kitti trả lời: "Tốt lắm thí chủ, tôi rất hài lòng."

Chớp lấy lời nói đó, vị luật sư liền nói: "Ngay cả em trai của Ngài Thiền sư cũng đã hài lòng với việc cúng dường ở Pyinmana như thế này..."