## TRANG 385

Vì Ngài nói: “Đã nói là tùy hỷ rồi thì không cần phải theo ý muốn của ai cả”, nên người dân Monywa đành phải chịu thua. Tuy nhiên, họ đã vây quanh trách móc và chỉ trích U Kitti. U Kitti, vì lời nói của mình mà bị mắc lừa, cảm thấy buồn bã, Ngài trùm đầu nằm ngủ và đau lòng khôn xiết. Khi trở về đến chùa Di-pè-yin, Ngài đã tự vẫn bằng dây thừng và viên tịch.

### Các bậc Thánh giả cúng dường nhục thân

Rằm tháng Táp-tuâng năm đó, lễ tang được tổ chức trọng thể suốt bảy ngày đêm. Các Toàn quyền, Đặc phái viên Anh quốc cùng các bậc Trưởng lão từ khắp nơi đã vân tập đông đủ.

Tỳ-khưu **U Nu**, người đang ẩn tu tại vùng Ye-sa-gyo, cũng có mặt tại lễ tang. Vì có duyên lành được nghe Ngài Đại đức thuyết pháp tại Sagaing, vị ấy đã khởi tâm tịnh tín và xuất gia, sau đó tận tụy hầu hạ và cung phụng Ngài, trở thành bậc trưởng tử kế thừa trọn vẹn cả pháp hành (Paṭipatti) lẫn các hạnh đầu đà (Dhuṭanga). Vị này vốn nổi danh là một bậc A-la-hán, pháp danh là Ngài **Paññāsīha** (Panya-thi-ha). Ngay từ khi Ngài Ledi Sayadaw mới lâm trọng bệnh, vị ấy đã đến chăm sóc chu đáo. Dù Ngài Ledi có ý muốn dùng thuốc, nhưng mọi người cho rằng không hợp với bệnh tình nên ngăn cản; khi đó, Tỳ-khưu **U Nu** thường lén lút dâng thuốc cho Ngài mà không để ai biết. Khi bị hỏi, vị ấy chỉ đáp: “Do Ngài Đại đức sai bảo”. Vị ấy trì bình khất thực, không sống trà trộn với đám đông, mà trì hạnh đầu đà lộ địa (Rukkhamūla), chỉ trú ngụ dưới gốc cây. Trong vòng vây của những nhân vật nổi tiếng, vị ấy thường không được mấy ai để tâm đến.

Trong ngôi tháp gạch tại tu viện đó, người ta đã chuẩn bị sẵn các loại củi thơm để làm lễ trà tỳ vào ngày trằm. Tuy nhiên, nhục thân của Ngài không hề thối rữa, trông như đang nằm ngủ một cách tự nhiên, làn da vàng óng và mềm mại, khiến mọi người không nỡ thiêu. Theo tâm nguyện của chư Tăng và Phật tử, nhục thân được đặt trong cỗ quan tài khảm gương dát vàng, tôn trí trên bệ thờ trong tháp gạch, sau đó khóa chặt hai lớp cửa sắt và dùng xi măng trám kín cửa hầm mộ lại.

Khoảng ba ngày sau, từ không trung vang lên những tiếng nhạc trời. Đêm đó, mặt đất rung chuyển bởi ba trận động đất liên tiếp. Hơn ba mươi vị Trưởng lão hàng đêm vẫn đang tụ họp gần tháp gạch để thuyết giảng và thảo luận về ân đức của Ngài Ledi Sayadaw. Nghe tin có ánh sáng rực rỡ phát ra từ tháp gạch, mọi người chạy đến xem thì thấy cửa hầm mộ đã bị sụp đổ do động đất, nhưng quan tài và hai ổ khóa vẫn còn nguyên vẹn và lạnh lẽo.

Về sau, vì nghi ngờ nên họ đã mở khóa kiểm tra và bàng hoàng thấy nhục thân đã hóa thành tro bụi. Mọi người đều vô cùng đau xót. Báo chí khi đó đưa tin: “Nhục thân của Ngài đã tự phát hỏa bằng hỏa giới (Tejo-dhātu) mà thiêu cháy”. Các Đặc phái viên và quan chức địa phương đã cử cảnh sát điều tra và thám tử đến Monywa, Sagaing, Mandalay để ráo riết tìm kiếm kẻ bị tình nghi. Danh sách hành khách từ Pyinmana trở về Monywa cũng được kiểm tra nghiêm ngặt tại các nhà ga.

## TRANG 386

Dù có người nghi ngờ rằng: “Đây là việc làm của người dân Monywa”, nhưng vẫn không tìm thấy hung thủ.

Vì không cam lòng, những vị Tăng và Phật tử thân cận vẫn chưa chịu rời đi. Khoảng ba tháng sau, trong một cuộc họp, vị Đặc phái viên Anh quốc đã đe dọa rằng: “Nếu vụ này không tìm ra thủ phạm, ta sẽ phải trừng phạt U Lan và U Tun Hlaing”. Nghe vậy, Tỳ-khưu **U Nu** đứng dậy phản đối: “Không nên trừng phạt những người vô tội”.

Vị quan nói: “Vậy hãy chỉ ra thủ phạm thực sự đi. Nếu không, U Lan và U Tun Hlaing sẽ phải chịu tội”. Khi đó, Ngài **U Nu** mới thư thái đáp: “Thủ phạm chính là tôi”. Mọi người xung quanh đều sửng sốt và nổi giận hỏi: “Sư đã làm điều đó như thế nào?”. Tỳ-khưu **U Nu** vẫn điềm tĩnh và dõng dạc nói:

“Ngài Trưởng lão đã dặn dò tôi rằng: ‘Sau khi ta viên tịch được bảy ngày, con hãy thiêu xác ta, đừng bàn bạc với bất kỳ ai cả’. Vì khi tròn bảy ngày điều kiện chưa thuận lợi nên đến giờ tôi mới thực hiện”.

Khi bị hỏi: “Còn ai đồng lõa nữa không?”, Ngài đáp:

“Tôi đã cầu xin chư thiên đạo đức trợ giúp để hoàn thành tâm nguyện của Ngài Trưởng lão”. Sau đó, Ngài giải thích tường tận cách làm.

Vào lúc một giờ sáng đêm đó, sau khi khấn nguyện chư thiên giúp đỡ, Ngài dùng một chiếc xà-beng thúc mạnh một nhát vào cửa hầm mộ; ngay lập tức mặt đất rung chuyển ba lần, gạch đá tự động đổ xuống, và Ngài đã dùng số củi thơm để sẵn gần đó để hoàn tất việc trà tỳ. Nghe xong, toàn thể đại chúng đều kinh ngạc sững sờ, không ai thốt nên lời. Ngài lại nói thêm rằng nếu muốn trừng phạt thì cứ việc, sở dĩ Ngài chưa đi đâu là để chờ nói rõ sự việc này. Các quan viên đáp: “Chúng tôi không muốn trừng phạt Sư”. Tỳ-khưu **U Nu** sau đó chỉ với một chiếc bát và ba tấm y cà-da, lặng lẽ rời khỏi cuộc họp. [Vị thiền sư vốn nổi danh là bậc Thánh giả này cũng đã viên tịch tại Ye-sa-gyo vào thời kỳ Nhật chiếm đóng].

Về sự chứng đắc của bậc ân nhân Ngài Đại đức Ledi Sayadaw, một số bậc trí giả cho rằng Ngài là một “bậc A-na-hàm đắc Thiền định và Thần thông”. Có ý kiến phê bình rằng: Nếu Ngài không dành ba phần tư thời gian và tâm sức vào việc giảng dạy, thuyết pháp và viết lách, mà dành trọn vẹn cả “một đồng bạc” (toàn bộ thời gian và tinh lực) vào công phu Minh sát (Vipassanā), thì hẳn Ngài đã hoàn tất xong phận sự của một vị Sa-môn (đắc quả A-la-hán).

Mặt khác, những người có thiên nhãn lại cho rằng: “Ngài Trưởng lão hiện vẫn còn trong vòng luân hồi ba mươi mốt cõi. Người ta thường thấy Ngài với thân tướng hào quang sáng chói, đang thuyết pháp cho vô số thính chúng”. Tuy nhiên, tác giả cuốn Lịch sử các bậc tác giả Ledi lại nhận xét rằng: “Nếu nói rằng bậc ân nhân Đại đức Ledi Sayadaw hiện đang ở cõi Phạm thiên **Vehapphala** (Quảng Quả), thì e rằng

## TRANG 387

số người tin tưởng sẽ không nhiều”. Nhận xét này thật vô cùng chuẩn xác. Tuy không rõ dựa trên căn cứ hay nguồn tin nào mà vị ấy khẳng định như vậy.

Thật ra, tất cả những nhận định trên đều có phần tương đồng. Nếu nhìn tổng thể từ văn phong, lối sống, tướng mạo cho đến những lời giáo huấn của Ngài, thì việc gọi Ngài là “Bậc A-na-hàm đắc Thiền và Thông” mới chỉ là cách nói khiêm tốn nhất. Tuy nhiên, việc xác chứng điều này vốn không thuộc thẩm quyền của chúng ta.

Ví như người đang bị lửa cháy trên đầu phải lo dập lửa ngay, nếu Ngài có thể hành trì như mũi tên đã bắn đi — không quanh co, không do dự cho đến khi đắc quả **A-la-hán** (Arahattaphala) — thì lịch sử truyền thừa giáo pháp hành trì (Paṭipatti Sāsana) tại Myanmar, nhờ vào tuệ năng và quả lực **A-la-hán** của một bậc trí tuệ cao tột như Ngài, chắc chắn sẽ còn rực rỡ hơn gấp bội phần.

[Lược soạn dựa trên các tài liệu: Lịch sử Ngài Trưởng lão Ledi, Lịch sử các bậc danh tăng Ledi, Tiểu sử cư sĩ Sayagyi Thet Gyi, các tập Ledi Dīpanī và những lời giáo giới truyền miệng từ các bậc trí giả tiền bối].

### Niết-bàn hay bốn đường khổ, hãy chọn nơi mình muốn đến

“Khi đã thấy được sự an lạc lớn lao của Niết-bàn, hãy sẵn sàng từ bỏ những lạc thú nhỏ nhen. Khi đã thấy được nỗi khổ cực đại của bốn đường ác đạo, hãy nhẫn nại cam chịu những nỗi khổ cực nhỏ nhoi.”

— Ngài Đại đức Mahā Gandhayon Sayadaw, Sagaing.