## TRANG 394

Cần phải có Chánh niệm và Tỉnh giác.

15. Không được tự mãn chỉ với việc thông thạo kinh điển, mà phải nỗ lực thực hành để thấu triệt Pháp.

16. Trong vòng luân hồi, không cần thiết phải mong cầu sống lâu. Chỉ cần mong cho vòng luân hồi ngắn lại.

17. Phải cắt đứt ái dục (taṇhā) dài dằng dặc và tiếp nối những ba-la-mật (pāramī) còn ngắn ngủi.

18. Nếu sống trong thất niệm, sẽ phải chết đi chết lại nhiều lần. Nếu không thất niệm, sẽ không còn phải chết nữa.

19. Hãy tiêu diệt vô minh và ái dục – những thứ vốn đang sống không ngừng nghỉ. Phải nỗ lực đạt đến Niết-bàn Vô vi (Asaṅkhata Nibbāna) – nơi vốn dĩ luôn tịch tịnh (không còn sinh diệt).

20. Phải cắt đứt sự chấp thủ (upādāna) vào tất cả hành (saṅkhāra). Chỉ khi có thể từ bỏ mọi hành mới có thể đạt đến Niết-bàn Hữu dư y (Anupādisesa Nibbāna).

Những người đang hành thiền không phải hễ mỗi khi hành trì là đều tiến bộ ngay. Để có thể tiến hóa, cần phải thường xuyên bồi dưỡng và quán chiếu thông qua những lời giáo huấn của Đức Phật và các bậc thiện trí thức về các nhân sinh khởi của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ; cũng như qua các sự tích, cách tác ý và các câu kệ pháp. Cần phải tự soi xét mình qua ba phương diện: **Tiến, Trình, Thoái (Visesa, Ṭhiti, Hāna-bhāgiya)**.

### Thẳng thắn phê phán những cách tu tập sai lệch

Khi Ngài Sayadaw thuyết pháp tại các buổi lễ cúng dường, Ngài không thường kể các câu chuyện Bổn sanh (Jātaka), mà từ việc chúc phúc cho đến lúc hồi hướng, Ngài chỉ tập trung giảng về Tam tướng và Pháp hành Minh sát (Vipassanā). Đối với những vị thân thiết hoặc có tư duy phân tích, Ngài thường giảng giải thẳng thắn, không nể nang đối với những việc làm tổn hại đến lợi ích tu hành.

Vào năm 1271 (Miến lịch), khi tổ chức lễ hồi hướng tại tu viện Masoeyein ở Mandalay, Ngài đã hỏi thí chủ U Thet Shei rằng: "Việc giết bò rồi mới hồi hướng thì có phạm vào ác nghiệp sát sanh (pāṇātipāta) hay không?". Ngài đã giảng giải rộng rằng theo Luật tạng (Vinaya), nếu hội đủ các chi chiết thì thành nghiệp; theo Kinh tạng (Suttanta), nếu hội đủ các yếu tố cấu thành thì thành nghiệp; theo Diệu Pháp tạng (Abhidhamma), nếu có sự xuất hiện của tác ý (cetana) v.v... thì thành nghiệp. Không nên chỉ chú trọng vào những danh xưng bên ngoài một cách hời hợt.

### Pháp hạnh ăn chay

Có một lần, Ngài đã giảng giải và phân tích chi tiết cho đệ tử là Đại đức U Acara (người tu hạnh ăn chay) cùng một vị thí chủ đến dâng vật thực chay cho Ngài:

## TRANG 395

"Làm ẩn sĩ thì tu theo lối ẩn sĩ, làm ngoại đạo thì tu theo lối ngoại đạo, làm phù thủy (zawgyi) thì tu theo lối phù thủy; đã làm Tỳ-khưu thì phải tu theo hạnh Tỳ-khưu. Không nên biến việc ăn chay thành một pháp hạnh cốt lõi để tu tập. Nếu việc đó thực sự có lợi ích, Đức Phật với Nhất thiết chủng trí (Sabbaññuta Ñāṇa) đã thấy và cho phép rồi. Ngay cả khi Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thỉnh cầu, Ngài cũng đã từ chối.

"Theo Luật tạng, ngoại trừ 10 loại thịt cấm như thịt voi, thịt rắn v.v... và các loại thịt do người ta giết dành riêng cho mình (mamsa uddissa) thì đều hợp lệ. Có thể thọ dụng được. Điều này đã được Đức Phật cho phép.

"Theo Kinh tạng, có ba loại 'thịt thanh tịnh' được cho phép liên quan đến việc thọ dụng.

"Theo Diệu Pháp tạng, không có chỗ nào nói rằng ăn hay kiêng loại thực phẩm nào thì sẽ có phước báu. Chỉ khi có **Khéo tác ý (Yoniso manasikara)**, điều phục tâm ý đúng đắn thì mới có phước báu. (Ăn chay cực đoan) chỉ là con đường tà hạnh, tự hành xác (**Attakilamathānuyoga**).

"Nếu chấp nhận một lối thực hành có vẻ tốt nhưng không thực sự chuẩn xác theo **Lý đạo (Yukti)**, dần dần ta sẽ đi lệch hướng mà không hay biết, rồi xa rời khỏi **Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā)**." (Trong bản tiểu sử gốc, Ngài đã giáo huấn phần này vô cùng chi tiết).

Trong hành trì, những sự dẫn dắt vi tế, sự sai khiến của tâm, sự lôi kéo của cảnh giới, và việc tự lầm tưởng về tâm mình là những điều rất đáng sợ. Về phương diện này, có lẽ Ngài Sayadaw đã thấu thị một cách vô cùng sâu sắc.

Vì vậy, không nên vượt qua trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, cũng không nên xem thường lời dạy của các bậc thiện trí thức có bề dày kinh nghiệm và trí tuệ. Pháp vốn sâu mầu. "**Atakkāvacara**" – nghĩa là Pháp vượt ngoài tầm suy luận, không phải là thứ có thể thấu hiểu hay tiếp cận chỉ bằng suy tính hay tưởng tượng suông.

### Vị Sayadaw tự mình chẻ củi, gánh nước

Ở các bậc thiện trí thức đặc biệt thường có những phận sự (vatta) và hạnh kiểm (caraṇa) được thực hiện bền bỉ (nibadda). Theo lời dạy: "**Vattaṃ aparipūrento sīlaṃ naparipūrati** – Người không làm tròn phận sự thì giới hạnh không được trọn vẹn", nên tùy theo sức khỏe mà các Ngài duy trì các phận sự đó hằng ngày.

Sayadaw Min Kyaung không chỉ quét dọn trong khuôn viên chùa mà còn quét dọc theo con đường các vị Tăng đi khất thực, kéo dài khoảng một dặm cho đến tận cổng làng, mỗi ngày hai lần sáng và tối. Cho dù người khác đã quét rồi hay rác tự nhiên rơi rụng, Ngài vẫn kiên trì quét dọn sạch sẽ. Ngài nói: "Đây là phước báu từ việc **Phục vụ thân thể (Kāyaveyyāvacca)** và **Phận sự đối với nơi sàng tọa (Senāsanavatta)**". Nước uống cũng vậy, Ngài thường xuống sông Ayeyarwady

## TRANG 396

để gánh nước về đổ đầy các lu chứa trước khi chúng Tăng thức dậy. Nếu các đệ tử đã gánh nước đổ đầy trước, Ngài sẽ dùng nước đó cúng dường Phật rồi lại đi gánh nước khác đổ thêm vào. Ngài cũng thường xuyên đổ nước vào nhà vệ sinh, nước rửa, nước thuốc. Ngài tự mình cọ rửa những thanh gỗ vệ sinh (kanut) sau khi chư Tăng sử dụng, và khi hết, Ngài tự mình chẻ tre, vót nan để làm thanh mới.

Mỗi khi xuống sông Ayeyarwady tắm, Ngài thường tự mình vớt những khúc củi trôi sông rồi xếp lên bờ. Ai cần thì lấy, số còn lại Ngài tự mình vác về chùa. Vào mùa đông, Ngài dùng số củi đó đốt lửa cúng dường Phật, đốt dọc đường cho chư Tăng đi khất thực, và thậm chí đốt lửa cho chó sưởi ấm.

Ngài cũng tự mình gánh cát từ sông Ayeyarwady về trải khắp khuôn viên chùa, ước tính khoảng một ngàn xe cát. Tại các ngôi bảo tháp gần chùa, Ngài cũng thực hiện các **Phận sự tại tháp (Cetiyangaṇavatta)**. Không chỉ quét dọn, dâng nước, mà tùy theo mùa, vào mùa đông Ngài đốt củi cúng dường, mùa hè Ngài dùng quạt đứng quạt mát trước tôn tượng Phật – đó là những hành động rất đặc thù. Ngài còn gánh lu nước đầy lên ngọn núi bảo tháp Pattamya rất cao và dốc để cúng dường. Ngài cũng quét dọn dọc theo dãy hành lang dài dằng dặc dẫn lên núi. Những ai từng đến đó sẽ biết, đó là ngọn núi mà ngay cả những thanh niên khỏe mạnh cũng phải nghỉ nhiều lần mới lên tới đỉnh.

Với những vị đã thấu triệt giá trị của cuộc đời, họ luôn tìm thấy rất nhiều việc để làm, để cúng dường. Họ không thấy khó khăn hay mệt nhọc.

Có khi Ngài tự tay vót đến hàng triệu que đánh răng, que vệ sinh. Không chỉ cho tự viện của mình, vào năm 1259 (Miến lịch), Ngài từng cúng dường cho tu viện Bhaya-gyi ở Mandalay (nơi có đông Tăng nhất với 1.600 vị), mỗi vị một bó gồm một trăm que đánh răng.

Nếu cho rằng phải làm được những phận sự phục vụ (gọi là **Caraṇa**) như thế này mới đạt được Minh (Vijjā - tuệ giác đặc biệt), còn "tôi không làm được" mà nản lòng thì không nên. Mỗi người đến với Đạo theo hạnh nguyện riêng: đức tin ưu trội (Saddhādhika), tinh tấn ưu trội (Vīriyadhika), hay trí tuệ ưu trội (Paññādhika). Các pháp hành như hơi thở (Ānāpāna) không phải là việc làm biệt lập. Ta có thể thực hành các pháp đó ngay trong khi làm những việc này. Trong cùng một lúc, hai công việc, hai loại lợi ích đều hoàn tất. Thật là dễ dàng.

Dù Ngài Sayadaw đã thực hiện các phận sự và pháp hành từ khi còn trẻ, nhưng trong thời gian học tập và giảng dạy Pháp học (Pariyatti), Ngài vẫn duy trì không để sơ sót. Khi bước sang tuổi năm mươi, Ngài chỉ giảng dạy Pháp học ở mức vừa đủ, còn lại tập trung hoàn toàn vào các hạnh đầu đà (dhutaṅga), phận sự và Pháp hành (Paṭipatti). Quả báo từ thiện nghiệp đã tích lũy từ quá khứ (pubbe-ca katapuññatā) của Ngài...