## TRANG 397

Ngài tiếp tục vận hành vòng quay "Thân cận bậc Thiện tri thức" (Sappurisa-upanissaya) như ngài Bhoga Sayadaw, và tùy nghi thực hành 13 pháp hạnh Đầu đà (Dhutanga). Ngài luôn ẩn giấu công hạnh của mình. Vì không muốn người khác biết mình đang giữ hạnh Đầu đà, ngài thậm chí còn xả hạnh trước khi thọ nhận vật phẩm cúng dường, sau đó mới phát nguyện thọ trì trở lại.

Ban ngày, dù ngài ở tại ngôi chùa gần làng nhưng ngay cả các đệ tử thân cận cũng không biết ngài là một bậc tu hành khổ hạnh nơi rừng sâu thực thụ. Sau nửa đêm, ngài lặng lẽ rời chùa để đến nghĩa trang hoặc một nơi hoang vắng xa xôi ở phương Bắc, mãi đến khi bình minh ló rạng mới trở về. Khi ngài thọ trì **hạnh Nhất tọa thực** (Ekāsanika - chỉ ăn một lần ngồi trong ngày) và **hạnh Bình lộc thực** (Pattapin - trộn lẫn các vị ngọt, chua, mặn vào bình bát rồi mới thọ dụng), có không ít thí chủ vì lòng thành kính mà cho rằng: "Cách Sayadaw thọ thực thật đáng ngưỡng mộ làm sao," khiến ngài phải tạm xả hạnh để không làm mất lòng tin của họ. Ngay cả các đệ tử thân cận cũng chưa từng thấy ngài nằm ngủ bao giờ vì ngài thọ giữ **hạnh Thường tọa** (Nisajja). Ngài giữ kẽ và ẩn giấu công hạnh một cách vô cùng kín đáo.

### Sự thanh bần, giản dị và những đặc điểm phi thường

Nếu bộ Luận **Thanh Tịnh Đạo** (Visuddhimagga) được biên soạn tại Myanmar, thì chắc chắn không thể thiếu phần nói về những bậc vĩ nhân đặc biệt như thế này.

Mọi hàng cư sĩ dù đến cúng dường hay đảnh lễ, ngài đều tiếp đón với oai nghi không đổi, thái độ không hề xoay chuyển. Ngài không có nơi tiếp khách riêng, cũng không thuyết pháp theo cách đón tiếp đặc biệt. Nếu thí chủ đến vào lúc ngài đang quét dọn, họ phải đến tận chỗ ngài đang quét để đảnh lễ. Giống như ngài **Maha Kassapa** (Đại Ca-diếp) đối với thí chủ luôn giữ thái độ như "người mới quen", Sayadaw đối với quan thượng thư Lhe Thin - người hộ trì chùa - cũng không hề vồn vã hay chiều chuộng, mà luôn cư xử như với người lạ. Trong khuôn viên chùa Min Kyaung rộng lớn, ngài không ở cố định tại bất kỳ ngôi liêu nào, có khi ngài ở lại lán chứa củi đến hai ba ngày.

Về phương diện lợi lộc, ngài cũng khiến mọi người kinh ngạc. Khi đi nhận vật phẩm cúng dường, ngài không bao giờ có đệ tử đi cùng để mang hộ đồ. Những vật phẩm thí chủ mang đến chùa hoặc cúng dường tận nơi, sau khi thọ nhận, ngài cứ để y tại chỗ, không bảo ai cất giữ. Các vị Sadi hay Tỳ-kheo nào cần đến đều có thể tự lấy mà dùng.

Ngài thường dạy rằng: "Sự bố thí ly tham (Pariccāga), không hướng tâm phân biệt, không định sẵn đối tượng, còn cao quý hơn cả sự bố thí có giới hạn và dự tính từ trước." Riêng phần ngài, ngài luôn chỉ giữ đúng ba y (**hạnh Tam y** - Ticivarik'andhura), ngay cả một chiếc khăn lau mặt cũng không có. Ngài không có chỗ ngồi riêng biệt hay giường nằm cố định.

Về vấn đề sức khỏe, ngài không hề tích trữ bất kỳ loại thuốc men nào. Đôi khi

## TRANG 398

ngài bị bệnh nhưng cũng không hề cho ai biết. Khi các đệ tử nhận thấy và dâng thuốc, ngài hỏi kỹ các thành phần; dù là thuốc có tác dụng tốt cho căn bệnh đến đâu, nhưng nếu chứa thành phần không hợp đạo hạnh, ngài đều từ chối. Có lần, ngự y Sayar Thẻ dâng một loại thuốc có chứa mật động vật, vì không đúng phép nên ngài nhất quyết không dùng. Ngài tôn trọng Giới luật đến mức độ như vậy.

Trên đời thường có những người trông giống như những bậc đặc biệt, nhưng phải dùng "tảng đá thử vàng" là Giới hạnh để nhận diện và khởi lòng thành kính (**Kinh Satta Jatila**). Mọi sự giả tạo đều không thể bền lâu; vì thế, một số người mặc áo tu hành có thể thi triển các loại thần thông nhưng họ không phải là những Tỳ-kheo giữ Giới (Vinaya). Người ta chỉ gọi họ là những tu sĩ theo kinh điển thế tục (Suttanta). Dù có nương tựa vào họ vì lợi ích thế gian, nhưng nếu không có nghiệp cũ và nỗ lực hiện tại của bản thân, thì không có vị thần thông nào có thể nâng đỡ được cả.

Kẻ xấu thường núp dưới hình bóng và quyến thuộc của bậc thiện trí như vàng giả, luân lạc giữa thế gian này. (**Tương Ưng Bộ - Kinh Satta Jatila**).

### Tự lo hậu sự cho mình, gánh cả hậu sự người khác

Ngài luôn có gương mặt tươi vui, giọng nói hiền hòa. Khi trò chuyện, ngài chỉ nói về những điều liên quan đến giáo pháp. Ngài không bao giờ bàn chuyện xóm làng, chuyện vua quan hay những chuyện phiếm vô ích (tiệm thuyết/súc sinh thuyết). Ngài luôn lo sợ mình sẽ trở thành gánh nặng cho người khác. Có một dạo, ngài bị chứng tiêu chảy rất nặng, sức khỏe suy kiệt đến mức gần kề cái chết. Ngài không cho bất kỳ đệ tử nào biết, mà âm thầm đi về phía nghĩa trang vào lúc quá nửa đêm. Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao mà không thấy ngài trở về, mọi người tá hỏa đi tìm. Họ thấy ngài đang nằm kiệt sức bên một gò đất tại nghĩa trang làng Watchet. Khi được hỏi lý do, ngài nói:

"Ta sợ các đệ tử phải vất vả chăm sóc bệnh nhân, rồi khi ta mất lại phải khiêng xác ra nghĩa trang, làm khổ mọi người thêm."

Trong việc chăm sóc người bệnh, ngài thật xứng danh là bậc trưởng tử của Đức Phật. Có lần, một đệ tử tên là **U Tiloka** bị bệnh dịch tả, chính tự tay ngài đã chăm sóc, lau chùi và giặt giũ các chất bài tiết. Ngài mời thầy thuốc U Lu Kalay đến cứu chữa nhưng không kịp. Vị đệ tử viên tịch vào lúc nửa đêm, để không làm phiền đến tăng chúng, đích thân ngài đã gánh thi thể, bảo ông U Lu Kalay đỡ đôi chân đang lủng lẳng ở phía sau, rồi đưa ra nghĩa trang ngay trong đêm. Vào năm 1259 (Miến lịch), một đệ tử khác tên là **U Dipa** mắc bệnh

## TRANG 399

dịch tả, ngài cũng tự tay chăm sóc và khi vị ấy qua đời, ngài đã một mình gánh thi thể đi hỏa táng ngay trong đêm.

Trong bốn tâm **Phạm trú** (Brahmavihara), **Xả** (Upekkha) là tâm cao thượng nhất. Sự tu tập tâm Xả của ngài thâm sâu đến mức khó tin. Ngài không hề khởi tâm bám luyến đối với bất kỳ chúng sinh hay hành pháp (sự vật, hiện tượng) nào. Ngài đã vượt lên trên cả sự yêu và ghét. Chịu đựng cái xấu đã khó, nhưng buông bỏ cái tốt còn khó hơn nhiều.

Khi các vị Tỳ-kheo, Sadi đến xin ở lại chùa, ngài chỉ phán: "Nghiệp dẫn dắt đến đây thì cứ chọn chỗ nào hợp lẽ mà ở cho an lạc." Khi có ai đến xin chuyển đi nơi khác, ngài cũng tiễn biệt bằng câu: "Được rồi, cứ đi theo sự an bài của nghiệp đi."

Dù các vị Sadi hay học tăng nô đùa ầm ĩ, ngài cũng không hề xao lãng việc xem kinh sách. Khi đang đọc sách, ngài giữ nguyên trạng thái tĩnh lặng. Ngay cả khi bên cạnh có người xích mích đến mức đổ máu, ngài cũng không nói lời nào. Nếu thấy cần rời đi, ngài chỉ lặng lẽ đứng dậy đi chỗ khác. Khi có người tranh cãi đúng sai và đến trình thưa, ngài chỉ phán: "Thôi, hãy sống sao cho an lạc."

Quan thượng thư Lhe Thin vì quá sốt ruột nên đã thưa rằng:

"Bạch Ngài, xin ngài đừng quá nuông chiều hay làm ngơ đối với các đệ tử như vậy. Những lúc cần răn dạy, xin ngài hãy răn dạy."

Khi đó, ngài đáp lại rằng:

"Họ xích mích là do nghiệp của họ xoay vần, chính cái nghiệp đó sẽ dạy dỗ họ. Ngay cả bản thân mình còn chẳng tự dạy mình được, chúng ta chỉ đang nhận lấy kết quả theo sự răn dạy của thiện nghiệp và bất thiện nghiệp mà thôi."

Vì mọi người đều biết ngài có định lực tu tập tâm Xả và lòng nhẫn nhục vô biên, nên đôi khi các vị Sadi nhỏ khi đến xoa bóp cho ngài, vì tính trẻ con đã tinh nghịch nhổ từng sợi lông chân của ngài để làm trò cười. Sayadaw hoàn toàn không hề cử động. Sau này, khi ngài viên tịch, một người dân làng Watchet tên là Maung U - vốn là người từng làm việc đó - đã kể lại câu chuyện khi mọi người đang ôn lại ân đức của ngài. Được những người hiểu biết nhắc nhở và giáo huấn, anh ta đã dâng đèn cúng dường trước kim thân của ngài để tạ tội và sám hối.

Nếu ngài hoàn thành được ba-la-mật về tâm Xả đối với chúng sinh hữu tình đến mức ấy, thì sự không dính mắc của ngài đối với những vật vô tri như chùa chiền, y phục... cũng không có gì là lạ.

Giống như sợi dây lưới giăng trong nước mà không hề vướng víu,

---

*Dịch bởi: Translator Agent (Gemini-3-Flash)*