## TRANG 409

Dưới gối của Ngài, người ta ngạc nhiên tìm thấy bản nhật ký ghi chép 12 năm tu hành do chính Ngài viết; trong đó bao gồm 16 loại giấc mơ, các điềm báo và những suy tư quán chiếu. Điều đặc biệt là ngay trong lời tựa, Ngài đã dặn dò rằng:

"Này các hàng tỳ-khưu, cư sĩ và tu nữ, để giúp cho thiền quán (Samatha Vipassanā) được tăng trưởng, các đệ tử nên đưa nhật ký này vào in trong sách thiền." Tuy nhiên, trong bất kỳ cuốn sách nào do Ngài viết, người ta đều không tìm thấy bản ghi chép này.

Nhờ ân đức của Ngài Mahosadha Paṇḍita ở tu viện Wejayantā, dãy núi Sagaing, bản nhật ký này đã được tìm thấy và đăng trên tạp chí Dhamma Byūha số (9-10 và 10-5) xuất bản vào tháng Tabodwe năm 1332 (tức ngày 10/2/1971).

Mặc dù những ghi chép này có vẻ không quá kỳ bí trong thời đại ngày nay, nhưng chúng ta sẽ rút ra được một bài học quý giá rằng:

"Ngay cả những bậc thánh nhân cao quý, am tường kinh điển và viên mãn về giới hạnh như vậy mà đôi khi vẫn gặp phải những ảo giác, linh tính và suy nghĩ sai lệch, rối rắm. Thậm chí khi phận sự sa-môn chưa hoàn tất, Ngài vẫn có lúc lầm tưởng rằng mình đã chứng đắc."

Bài học đặc biệt cần rút ra chính là về việc phát nguyện thành Phật (Buddhaphala). Những người tự nhận mình là "Bậc đại nguyện" ngày nay cần phải suy xét và quyết định dứt khoát; vì khi hành vi của mình còn xa rời với đạo hạnh của các bậc Bồ-tát mà không tự biết, thì đó chính là đang tự lừa dối chính mình. Thật đáng tri ân việc Ngài đã lưu lại bản ghi chép này.

Nội dung nhật ký của Ngài như sau:

1. Năm 1257, khi đang thực hành thiền định, đến năm 59 thì đạt được **Sự an tịnh thân tâm (Kāya-passaddhi Citta-passaddhi)**. Trong khoảng một tháng, cả thân và tâm đều lìa xa phiền não, sự nóng nảy hoàn toàn dập tắt và trở nên vô cùng thanh tịnh.

2. Sau đó, đến năm 61, bắt đầu từ ngày mùng 7 tháng Kasone (ngày đầu năm mới), Ngài luôn nghe thấy các đối tượng âm thanh (Thaddārom) thông qua nhĩ môn (Sotadvāra).

3. Sau khi nghe được các âm thanh đó, Ngài rơi vào trạng thái hỷ lạc (Pīti) vô cùng mãn nguyện trong suốt nhiều ngày.

4. Tiếp theo, dù chưa chứng đắc các tầng Thiền, Đạo hay Quả, nhưng trong tâm Ngài luôn có cảm giác như thể mình đã đạt được điều đó trong nhiều ngày liên tục.

5. Sau đó, hình ảnh Đức Phật cùng các bậc đại A-la-hán như Ngài Sāriputta, Ngài Moggallāna hiện lên trong tâm Ngài rõ rệt như những thực thể ngũ uẩn trong Niết-bàn suốt nhiều ngày.

6. Tiếp đó, khi quán chiếu về Danh - Sắc (Rūpa-Nāma) nhiều lần, vào đêm mùng 7 tháng Đệ nhất

## TRANG 410

Waso năm 61, trong khi đang quán chiếu Danh - Sắc thì các khái niệm chế định (Paññatti) biến mất. Ngài thoát khỏi **Hôn trầm và Phóng dật (Thina-middha Uddhacca)**, thức trắng cho đến sáng và thấy rõ rằng mọi loài hữu tình lẫn vô tình đều chỉ là sự tập hợp của Danh và Sắc. Ngài luôn thấy rõ các pháp Danh - Sắc này chỉ là **Vô thường, Khổ, Vô ngã (Anicca, Dukkha, Anatta)**. Từ trong những làn khói bụi hay mây mù mờ ảo hiện ra một luồng ánh sáng trong trẻo, phản chiếu rõ rệt khuôn mặt của Ngài.

7. Tiếp theo, khi quán chiếu Danh - Sắc nhiều lần, vào đêm trăng tròn 14 tháng Đệ nhất Waso, Ngài thức suốt đêm, mọi phiền não nóng nảy đều dập tắt. Các pháp như **An tịnh thân tâm (Kāya-passaddhi, Citta-passaddhi)** phát sinh, thoát khỏi Hôn trầm và Phóng dật. Có rất nhiều luồng ánh sáng hiện ra như khói mây, như những hạt ngọc đỏ, hay như ngọn lửa đang cháy; và Ngài luôn thấy rõ các luồng sáng đó đều có bản chất là **Vô thường, Khổ, Vô ngã**.

8. Sau đó, khi quán chiếu liên tục **10 Tuệ quán (Vipassanā-ñāṇa)**, Ngài thấy rõ từ **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** cho đến **Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)**.

9. Tiếp theo... khi quán chiếu, Ngài thấy **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** và **Tuệ sinh diệt (Udayabbaya-ñāṇa)** hiện rõ vô cùng từ năm 61 cho đến ngày thứ 6 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 62 (Thứ Tư).

10. Tiếp đó... vào ngày thứ 8 sau trăng tròn tháng Nattaw năm 62, bắt đầu từ 4 giờ chiều và thức suốt đêm đến sáng, Ngài chỉ chú tâm vào Niết-bàn và lầm tưởng rằng mình đã đắc cả **Bốn tầng Thánh Đạo**. Cho đến khi trời sáng, Ngài mới nhận ra mình chưa đắc cả bốn tầng. **P-a, Th-a, M-am, M-a, G-a - R-a.** (Nghĩa là Ngài cho rằng đã đắc tầng Đạo thứ nhất).

11. Tiếp theo... vào ngày thứ 6 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 62 (Thứ Tư), Ngài thấy **Tuệ diệt (Bhanga-ñāṇa)** trở nên vô cùng già dặn và hiện rõ liên tục.

12. Sau đó... vào đêm ngày thứ 11 sau trăng tròn tháng Pyatho, các tuệ: **Tuệ kinh sợ (Bhaya-ñāṇa), Tuệ thấy tội lỗi (Ādīnava-ñāṇa), Tuệ nhàm chán (Nibbidā-ñāṇa), Tuệ muốn giải thoát (Muñcitukamyatā-ñāṇa), Tuệ quán sát lại (Paṭisankhā-ñāṇa), Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)** hiện rõ vô cùng.

13. Tiếp theo... khi kết thúc **Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)**, bước đầu Ngài thấy các tuệ **U-A-Ni** là **Khổ đế (Dukkha Sacca)**; thấy **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** là **Tập đế (Samudaya Sacca)**; thấy **Tuệ muốn giải thoát (Muñcitukamyatā-ñāṇa)** là **Diệt đế (Nirodha Sacca)**; thấy **Tuệ quán sát lại và Tuệ hành xả** là **Đạo đế (Magga Sacca)**.

14. Tiếp đó, khi quán chiếu **10 Tuệ quán** nhiều lần, Ngài thấy rõ

## TRANG 411

**Tứ Diệu Đế** luôn hiện rõ thông qua năng lực của thiền tập (Bhāvanā).

15. Tiếp theo, khi quán chiếu về các pháp **Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda)** và **Duyên sinh (Paṭiccasamuppanna)**, các pháp này hiện rõ trong suốt nhiều ngày.

16. Sau đó... khi quán chiếu về bốn phương cách: Nhất thể (Ekatta), Dị biệt (Nānatta), Vô ý tác (Abyāpāra) và Pháp tính tự nhiên (Evaṃ dhammatā), bốn phương cách này hiện rõ trong nhiều ngày.

17. Tiếp theo, khi quán chiếu **7 bước Thanh tịnh (Visuddhi)**, Ngài thấy rõ từ **Giới thanh tịnh (Sīla-visuddhi)** cho đến **Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi)**.

18. Sau đó, Ngài dùng tâm hình dung ra một người phụ nữ quen biết đang trang sức rực rỡ với chuỗi hạt, hoa tai và y phục đẹp đẽ đứng bên cạnh. Dù người phụ nữ đó trông rất kiều diễm nhờ trang sức, nhưng Ngài quán chiếu rằng cô ấy không thể tránh khỏi quy luật của sự già yếu; rồi lập tức hình ảnh hiện ra với tóc bạc, răng rụng, xương hố mắt, xương hàm, xương sườn lộ ra gầy guộc, mang dáng vẻ gớm ghiếc, bất tịnh (Ngài cũng quán tương tự về sự đau đớn, cái chết và sự thối rữa). Ngài quán rằng bộ xương vẫn còn đó và thấy rõ bộ xương hiện ra. Ngài thấy rõ bộ xương đó mang bản chất **Vô thường, Khổ, Vô ngã**.

19. Ban đêm, trước khi ngủ, Ngài nhìn lên các vì sao trên trời và tu tập thiền quán, khi ngủ thì trong ý môn (Manodvāra) hiện ra rất nhiều vì sao.

20. Ban ngày, Ngài nhìn lên mái chùa và tu tập thiền quán, khi ngủ ban đêm thì mái chùa lại hiện ra trong ý môn.

21. Sáng ngày thứ 5 sau trăng tròn tháng Đệ nhất Waso năm 1263, Ngài cảm thấy tâm không an lạc vì lỗi của người khác. Trưa hôm đó, sau khi ngủ dậy, dù Ngài nỗ lực quán chiếu các pháp thường nhật nhưng sự bất an - một chướng ngại lớn đối với Pháp (Dhamma-antarāy) - vẫn phát sinh. Ngài liền quán chiếu bài kệ **"Piyato jāyati soko"** (Do ái quyến sinh sầu ưu) nhiều lần để thấy những người đó như là kẻ thù. Khi đó, từ người đó cho đến tất cả những người thân yêu đều hiện rõ là "kẻ thù bên trong" (nội oán), còn năm loại kẻ thù bên ngoài là "kẻ thù bên ngoài" (ngoại oán).

Ngài thấy rõ rằng do những kẻ thù bên ngoài đó mà các thiện nghiệp thế gian phát sinh trong tâm lại trở thành kẻ thù nội tại; còn các bất thiện nghiệp phát sinh trong tâm chính là kẻ thù bên ngoài.

Hơn nữa, các thiện nghiệp và bất thiện nghiệp từ những đời trước vây quanh như những thực thể kẻ thù lớn; Ngài thấy rõ như thể các kẻ thù bất thiện nghiệp đang nói rằng sẽ quăng Ngài vào ngục tù luân hồi trong bốn đường ác (Apāya), còn các kẻ thù thiện nghiệp thì đưa vào cõi người, cõi trời, cõi Phạm thiên...