## TRANG 415


359

Mặc dù có nhiều ghi chép (về ý nghĩa tâm linh), nhưng đối với những chi tiết như “có được bốn tòa lâu đài, bốn chiếc lọng trắng”, v.v., lại không thấy có lời chú giải cụ thể nào. Sau khi thực hiện những ghi chép này, Ngài Thiền sư còn trụ thế thêm khoảng chín năm nữa, do đó chúng ta không dám khẳng định chính xác về sự chứng ngộ Pháp (Dhammābhisamaya) của Ngài. Chúng ta chỉ nên lấy đó làm gương mẫu để nỗ lực noi theo.

Ngay cả đối với những bậc đại trí nhân (ājāniya) như vậy, khi phận sự tu hành của bậc Sa-môn chưa hoàn tất mà đã xuất hiện những vọng tưởng (ārammana-lim) cho rằng đã hoàn tất, cùng với việc từ thuở thiếu thời đã bị đè nặng bởi tâm nguyện thành Phật không chân thật trong nhiều năm, thì đó chính là những bài học cốt tủy mà Ngài Thiền sư đã dùng cả cuộc đời mình để đúc kết lại.

---

## TRANG 416

# NGÀI THIỀN SƯ IN GYIN MYAUNG VÀ NGÀI THIỀN SƯ NIBBINDĀ

(1222 - 1278) . (1248 - 1338)

Về câu chuyện của hai vị Thiền sư lỗi lạc tại thành phố Pyay (Prome), vốn được tôn xưng là những bậc "Alahan đắc Tam Minh (Tevijja)", đó là Ngài Thiền sư In Gyin Myaung và Ngài Thiền sư Nibbindā, chúng ta có thể tìm đọc trong tác phẩm *Sikkhā-thum-pā-paya-kyan* (Kinh văn về Ba môn Học) do chính Ngài Thiền sư Nibbindā biên soạn.

Phần tiểu sử mở đầu này do chính Ngài Thiền sư Nibbindā tự thuật nên vô cùng xác thực và lôi cuốn. Trong phần dẫn nhập đó, Ngài còn mô tả lại những cuộc gặp gỡ và thỉnh vấn với Ngài Thiền sư Ledi, Ngài Thiền sư Thay-kyet-taung, và các vị Thiền sư tại tu viện Gañdhāyon (Sagaing), khiến cho nội dung càng thêm phần giá trị.

Dưới đây là phần tóm lược các ghi chép đó:

Ngài Thiền sư Nibbindā, người thực hiện ghi chép này, sinh vào ngày mùng 10 tháng Tazaungmon (tháng 8 Miến lịch) năm 1248 (khoảng năm 1886 DL), vào lúc 8 giờ sáng thứ Sáu, tại làng Myay-zar-gyun thuộc huyện Monyo, tỉnh Tharrawaddy, bên bờ sông Ayeyarwady. Thân phụ Ngài là U Kyar Nyo và thân mẫu là Daw Lon Ma. Năm lên 10 tuổi, Ngài mắc bệnh ghẻ lở khắp người, dùng đủ mọi loại thuốc đều không khỏi. Giữa lúc bận rộn công việc, thân mẫu Ngài vì không thể ép Ngài bôi thuốc nên đã mắng rằng:

“Cứ thế này thì lâu dần con sẽ bị hủi thôi, khi đó con sẽ phải ra ở một mình trong túp lều rách ngoài rìa làng, hãy nhớ lấy!”

Lời nói ấy tuy nghe qua có vẻ bình thường, nhưng đối với một đứa con có chủng tánh trí tuệ và ba-la-mật, nó đã khơi dậy một sự kinh cảm (saṃvega) sâu sắc, thôi thúc tâm nguyện muốn xuất gia trở thành tu sĩ.

### Những điềm báo trước

Thuở còn là một cậu bé giúp việc (kyaung-thar) tại chùa làng Myay-zar, trong lúc nỗ lực học tập tập sách *Saṅgaha* (Thắng Pháp Tập Yếu), mỗi khi đi ngủ, cậu thường thấy ánh sáng lung linh rạng ngời xuất hiện ở phía cuối chân giường như có ai thắp đèn. Mỗi khi ngồi dậy tìm kiếm thì ánh sáng ấy lại biến mất.

Có lần, một nốt mụn cóc mọc lên ở ngón tay cái bên phải, khi đưa cho mẹ xem, mẹ bảo rằng mụn này có thể dẫn đến bệnh hủi. Vì trong làng cũng có người bị bệnh hủi nên cậu bé hết sức hoảng sợ. Đến đêm đi ngủ, cậu cứ nắm chặt lấy ngón tay cái ấy. Một đêm nọ, tưởng rằng ngón tay đã biến mất, cậu òa khóc nức nở khiến người mẹ phải cầm lấy ngón tay cậu và an ủi: "Nó vẫn còn đây mà con". (Bất luận là ai, từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt, mọi lời nói, hành động và suy nghĩ đều không nằm ngoài quy luật nhân

---

## TRANG 417


361

quả. Công việc ngày hôm nay luôn liên hệ với công việc ngày hôm qua. Kiếp trước liên hệ mật thiết với kiếp này. Chúng ta cần chú ý rằng đây chính là những tiến trình của Pháp tánh vốn đã nằm sẵn trong chủng tánh - bīja).

Năm 15 tuổi, cậu bé xuất gia làm Sa-di và học tập kinh điển (Pariyatti). Pháp danh là **Shin Sīri**. Tâm nguyện muốn trở thành vị Tỳ-kheo và vào rừng ẩn tu thường xuyên trỗi dậy. Sau khi thọ giới Tỳ-kheo được hai hạ, Ngài đến học đạo với Ngài Thiền sư **U Gandhasāra** ở Pakokku và Ngài Thiền sư **U Ñāṇa** tại tu viện Phaya-gyi ở Mandalay. Lúc bấy giờ, do quá say mê học tập kinh điển, tâm nguyện vào rừng ẩn tu vốn có trong chủng tánh bỗng tạm thời lắng xuống. Đến hạ thứ tư, khi tự quán chiếu lại bản thân, Ngài quyết định rằng dù chưa thể vào rừng ngay, Ngài vẫn sẽ thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga).

Năm hạ thứ sáu, khi đang học Pháp với Ngài Thiền sư Puthoe-gyi tại thành phố Pyay, Ngài đã xin phép vào rừng ẩn tu nhưng không được chấp thuận. Ban ngày Ngài phải lên lớp giảng dạy, chỉ đến ban đêm mới có thể ngồi thiền. Tuy vậy, ý định đó không hề lung lay. Trong tâm trí, Ngài hình dung việc vào rừng, nhưng vì chưa có cả túi đựng bát và các vật dụng cần thiết, nên việc làm sao để có được một chiếc bát đúng theo Luật tạng (Vinaya) cũng khiến Ngài trăn trở, lo âu. May thay, nhờ sự hộ độ của thí chủ U Tha Pyaw, mọi vật dụng đã được đầy đủ. Sau khi đảnh lễ tạ từ Ngài Thiền sư và cúng dường toàn bộ sách vở, vật dụng dư thừa cho một vị sư huynh, thời khắc lên đường đã đến. Đó là vào lúc 5 giờ 30 phút chiều ngày mùng 8 tháng Tazaungmon năm 1274 (khoảng năm 1912 DL).

### Những ngày đầu vào rừng

Ngài quẩy bình bát trên vai, hướng về dãy núi Puthoe-gyi. Vị sư huynh cùng đi tiễn Ngài. Hai anh em vừa đi vừa trò chuyện, khi đến gần núi Kyet-tin thì trời bắt đầu sập tối. Ánh trăng mùng tám chỉ lờ mờ. Vị sư huynh nói lời dặn dò, khuyên nhủ cuối cùng rồi tiễn Ngài đến tận núi Kyet-tin trước khi quay trở về.

Một nỗi buồn đau, ly biệt chưa từng trải qua trong đời bỗng ập đến như thể vừa nhặt được, khiến Ngài không sao ngăn được dòng cảm xúc, tâm tư như muốn tan nát. (Hãy lưu ý đến năng lượng của chủng tánh). Sau một hồi trấn tĩnh, Ngài lấy gương hạnh của các bậc tiền nhân làm kim chỉ nam, băng qua các dãy núi cách thành phố Pyay khoảng hai dặm. Toàn bộ sườn núi và rừng cây bao trùm trong bóng tối mịt mù. Tình cờ, Ngài tìm thấy một túp lều cũ hoang phế không người ở, Ngài quyết định dừng chân nghỉ lại đêm đó tại lều và thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). (Lời của người mẹ năm xưa: "Con sẽ phải ra ở một mình trong túp lều ngoài rìa làng" quả thật đã ứng nghiệm. - Ghi chú của tác giả).

Sáng sớm hôm sau, vì không có nước rửa mặt nên Ngài phải đi tìm nước. Ở cuối chân núi, Ngài tìm thấy một vũng nước nhỏ, liền dùng vải lọc nước để sử dụng. Đến giờ đi khất thực...