## TRANG 424



Bà ấy xin lỗi tôi rằng: "Thưa cô, xin cô hãy hỷ xả cho những lời nói lỡ lầm, không phải của chúng tôi ngày trước nhé! Nghe tin cô vào thiền viện tu tập, chúng tôi vô cùng hoan hỷ. Bản thân chúng tôi cũng đang quyết tâm thu xếp để vào thiền viện đây" - vừa nói, bà ấy vừa nắm chặt tay con (thí chủ đang kể chuyện) bạch Ngài.

"Chỉ bấy nhiêu thôi thì con vẫn chưa thấy kinh ngạc lắm. Từ thuở còn trẻ, vào các ngày rằm và ba mươi hàng tháng, chúng con đều có thói quen lên chùa Shwedagon để dâng hoa và nước cúng dường. Sáng hôm ấy cũng chính là ngày rằm, nên con đã lên chùa. Vừa lên tới nơi, người phụ nữ kia đã hớt hải chạy đến nắm lấy tay con và nói đúng y hệt những lời mà con đã nghe thấy trong lúc ngồi thiền. Lúc đó con vô cùng hoan hỷ vì biết rằng tâm từ (mettā) của mình đã thành tựu. Nhưng điều đáng kinh ngạc hơn cả là từ chiếc áo, chiếc longyi cho đến cái khăn choàng mà bà ấy đang mặc đều giống hệt, không sai một li so với những gì con đã thấy trong linh ảnh lúc hành thiền, bạch Ngài" - các hành giả có mặt ở đó đều được nghe lời trình pháp này.

Đối với những nghi vấn về việc "rải tâm từ có đến được nơi hay không", thì sự kiện này là một minh chứng vô cùng quan trọng. Đối với những chướng ngại vô hình, khi tâm từ lan tỏa đến thì mọi hiểm nguy đều tan biến, đó là điều không còn gì phải nghi ngờ nữa.

### Làm chủ được tâm là xong tất cả

Sau khi Ngài U Indaka ở tại rừng Wet-ye được khoảng bốn năm, bà con từ làng Kyee Pin Chaung đến thăm viếng. Thấy không có mẫu thân đi cùng, Ngài liền hỏi thăm thì được biết bà đã qua đời từ tháng Nayon năm **1256** (1894 DL).

Tin tức này như một lời cảnh tỉnh nhắc nhở thêm đối với Ngài U Indaka rằng: "Cái chết đã cận kề rồi. Hãy nỗ lực để đạt được Đạo Quả trước khi nhắm mắt".

Ngài thuyết pháp giáo giới cho người thân rằng: "Này Maung Thar Baik, các con cũng không còn trẻ nữa. Cái chết vốn không có gì lạ lẫm. Gặp được giáo pháp (Sāsana) như thế này mà không tìm cầu được pháp không chết (Bất tử) thì thật là uổng phí. Giờ đây, hạnh phúc Niết-bàn (Nibbāna) đã cận kề như mật ong bám trên râu, chỉ còn chờ nuốt vào mà thôi. Cái thân xác này chỉ là con bò mướn mà thôi. Đừng có tưởng lầm nó là con bò của mình rồi lo chăm bẵm cho ăn cho uống, không nỡ sai bảo làm lụng, để rồi đến khi chủ nhân là Thần Chết đến bắt đi mới hối tiếc thì đã muộn rồi". Sau đó Ngài bảo họ từ nay về sau đừng đến tìm Ngài nữa.

Kể từ đó, theo lời dạy của thầy (Đại đức Ledi Sayadaw), Ngài đặc biệt quán chiếu để nhìn thấu suốt tâm thức (viññāṇa). Cứ bảy ngày Ngài mới đi khất thực một lần, nỗ lực tu tập với ý chí quyết tâm cao độ.

Ngài nỗ lực hết mình cho đến đầu năm **1262** (1900 DL), nhưng thân bệnh ngày một trầm trọng, mà pháp bảo vẫn chưa đạt được như ý nguyện. Khi đó, Ngài đã nhờ một vị thí chủ gửi thư trình lên Đại đức Ledi Sayadaw.

## TRANG 425



Trong bức thư đó, Ngài viết rằng: "Pháp danh (nāma-dhamma) mà Thầy bảo con quán xét thật quá đỗi vi diệu, con vẫn chưa thể làm chủ hoàn toàn được". Và với tư cách là người đệ tử trung thành của Ledi Sayadaw (như phong cách của vùng Zee Pan Nee), Ngài đã viết thêm bài kệ sau:

*Hình dáng xưa vẫn thế, phong thái chẳng đổi thay,*

*Nhưng bản chất thật sự, khó diễn bày bằng lời, bậc trí mới thấu tận.*

*Dòng tâm thức chuyển luân, như bóng hiện trong gương,*

*Đến khi nào tuệ giác, cùng với sự tỉnh giác (sampajañña),*

*Thấy rõ chân lý ấy (dassanā ekanta), chẳng còn chút nghi nan?*

(Dassanā ekanta - tức là thấy được **Sotāpatti-magga** - Tu-đà-hoàn Đạo - một cách thực thụ.)

Đại đức Ledi Sayadaw khi đọc thư xong liền nói: "Người đệ tử lớn ở rừng Wet-ye đang gọi, ta phải đi thôi". Nói rồi Ngài quẩy bát, cùng với người đưa thư đi bộ lên đường. Lúc đó là tháng Kason (tháng 5), thời tiết vô cùng nóng nực. Năm đó, hai thầy trò đã cùng an cư tại khu rừng ấy. Vì Ngài U Indaka sức khỏe yếu nên chính Đại đức Ledi Sayadaw đã đi khất thực để nuôi dưỡng đệ tử.

"Này Indaka, tâm này vô cùng vi diệu, biến hóa như ảo thuật vậy. Con thấy đấy, những vật dụng, những công trình kiến trúc trên thế gian này chẳng phải rất đa dạng sao? Nhưng so với chúng, thế giới động vật còn đa dạng và kỳ lạ hơn nhiều, với đủ loại hình dáng và sắc màu khác nhau. Tất cả những sự đa dạng, vi diệu đó đều do tâm mà ra, chính tâm đã tạo tác nên chúng. Vì vậy, tâm còn vi diệu hơn tất cả những gì được gọi là vi diệu. Trên đời này, tâm là thứ kỳ diệu nhất. Cả thế gian này đều phải chịu sự chi phối của tâm. Tâm làm chủ, vạn vật đều phải vận hành theo ý muốn của nó. Nếu con chinh phục được cái 'tâm' duy nhất này, con có thể làm được mọi điều mình muốn trên thế gian. Nó có quyền năng lớn lao như vậy đó, hãy cố gắng làm chủ nó cho bằng được nhé." (**Khandha-vagga, Saṁyutta Nikāya, bài kinh Dutiya Gada-baddha Sutta**).

"Các vị Phạm thiên Vô tưởng (Asaññasatta Brahmā) dù không có danh (tâm) nhưng chỉ dựa vào sắc (thân) mà có thể tồn tại suốt nhiều đại kiếp; các vị Phạm thiên Vô sắc (Arūpa Brahmā) dù không có sắc nhưng chỉ với danh mà có thể sống qua nhiều đại kiếp. Vì sao lại như vậy? Đó là do tâm mong muốn như thế của họ mà thành. Tâm có thể làm cho mọi ước nguyện đều trở thành hiện thực. Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputtra) tôn kính trong **Kinh Mahāgosiṅga Sutta** đã dạy rằng: 'Vị Tỳ-kheo không thuận theo ý muốn của tâm, mà phải khiến tâm thuần phục theo ý muốn của mình; khi có thể an trú trong các bậc Thiền định siêu thế (Lokuttara Samāpatti), vị ấy sẽ làm cho giáo pháp trở nên rực rỡ như rừng cây In-gyin vậy'. Tâm cũng giống như dòng nước, chảy theo con mương đã đào sẵn. Tuy nhiên, có một điều: đừng như anh chàng chăn bò được Vua Trời Đế Thích ban cho điều ước lớn lao mà lại chỉ xin một bãi cỏ chăn bò; con đừng để tâm ở mức thấp hèn là chỉ muốn tích lũy ba-la-mật hay chỉ đạt được một Đạo quả sơ cấp. Tâm chắc chắn sẽ mang lại cho con những điều cao thượng nhất. Đừng bao giờ nghi ngờ điều đó."

"Nếu muốn đắc Túc mạng thông (Pubbenivāsa Abhiññā) để biết về các kiếp sống trong quá khứ suốt vòng luân hồi, con phải làm gì? Chỉ cần hướng tâm về những điều muốn biết mà thôi. Chẳng phải kinh dạy là **Pubbenivāsāya cittaṃ abhininnāmesi** (hướng tâm về túc mạng thông) đó sao? Nếu đã làm chủ được tâm thì mọi việc đều trở nên rất dễ dàng. Trên thế gian này không có gì là không thể cả. Ôi, ơn đức của Đức Phật thật bao la, kể sao cho xiết!" - Ngài Ledi Sayadaw thường xuyên thuyết giảng khích lệ như vậy.

## TRANG 426



Được gặp gỡ và trở thành bạn đạo thân thiết với một bậc vĩ nhân như thế này, đối với Ngài U Indaka quả là một phước báu lớn lao, một cơ duyên hiếm có.

Hiểu rõ mình đang có được những thuận duyên và cơ hội ngàn vàng, Ngài U Indaka dù thân bệnh cũng không hề bận tâm. Suốt mùa an cư ấy, Ngài dùng chiếc hạ y (thin-pying) quấn quanh mặt, nỗ lực hành thiền không rời khỏi chỗ ngồi. Đại đức Ledi Sayadaw cũng thực hành hạnh **Nisajji-dhutaṅga** (hạnh Đầu đà không nằm) suốt cả mùa an cư trong khu rừng đó. Ngay trong mùa hạ này, Ngài U Indaka đã thấu triệt được sự huyễn hoặc của tâm thức một cách rõ ràng. Ngài nhìn xuyên thấu qua những đặc tính vi diệu của danh pháp (nāma-dhamma) vốn đang che lấp và tác động lên cả đất đai, sông ngòi, rừng núi, cho đến những khúc gỗ hay cột nhà. Ngài đem những điều mình chứng ngộ trình lên Thầy, và Đại đức Ledi Sayadaw đã thốt lên lời tán thán "Sādhu".

Sau mùa an cư, hai thầy trò rời rừng Wet-ye để đến thị trấn Budalin. Trong lúc dừng chân nghỉ ngơi tại đó, Đại đức Ledi Sayadaw đã thuyết giảng tán thán những điều mà Ngài U Indaka đã chứng ngộ trước hàng đệ tử. Có lẽ đây là cách Ngài mở đường cho sứ mệnh tương lai của đệ tử. Khi Đại đức Ledi Sayadaw đi về Monywa, Ngài U Indaka lại quay trở về khu rừng cũ.

### Khúc gỗ có tâm, cột nhà có tâm? Không có, mà lại có

Vào năm **1265** (1903 DL), Ngài lại chuyển đến trú ngụ tại khu rừng Kyaung-pan rộng lớn, nằm ở phía đông các làng Wet-ye, Ku-taw và Ywa-mon, gần rừng Wet-ye. Các thí chủ đã cùng nhau xây dựng tịnh thất cúng dường Ngài. Ngài bắt đầu thuyết giảng giáo pháp dần dần, và từ đó mọi người gọi Ngài là "Kyaung-pan Tawya Sayadaw" (Thiền sư rừng Kyaung-pan). Sau khi ở quanh khu rừng Wet-ye hơn **13** năm, Ngài đi vân du và lưu trú tại nhiều thiền viện rừng khác nhau. Với việc thuyết giảng pháp Minh sát (Vipassanā), một trung tâm thiền học Kyaung-pan lớn đã hình thành ở phía tây nam thị trấn Budalin.

Trong thời gian rời rừng Kyaung-pan để đến ở tại thiền viện Yar-gyi-kone, gần thị trấn Alon, các bậc thầy Vi diệu pháp (Abhidhamma) như U Tun Oo, U Tun Hla, U Yan Nyein đã tranh luận với nhau về thuyết "khúc gỗ có tâm, cột nhà có tâm" (tôn-năng, tà-năng) mà Thiền sư Kyaung-pan đã giảng. Khi đó, họ đã đem chuyện này trình lên Đại đức Ledi Sayadaw đang trú ngụ tại thiền viện In-gyin-myaing, Ngài từ chối và nói rằng: "Ta không muốn đưa ra phán quyết về việc này".

Có lần, Ngài nói với vị thị trưởng thị trấn Alon là U Chaw rằng: "Này Maung Chaw, tuệ giác của Kyaung-pan...