## TRANG 445


**389**

“Khi thực hiện bất cứ công việc gì, như khi đi khất thực chẳng hạn, ta có thể tạm rời đề mục **Ānāpāna** (hơi thở - vốn là đề mục căn bản) để tu tập **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ). Hãy quán sát theo như những gì được dạy trong các phần **Iriyāpathapabba** (Mục Oai nghi) và **Sampajannapabba** (Mục Tỉnh giác), bằng cách ghi nhận ‘biết - biết - biết’, hoặc suy xét rằng ‘**Anicca** (Vô thường), **Dukkha** (Khổ), **Anattā** (Vô ngã)’. Việc giữ cho niệm không gián đoạn, nối kết liên tục trong mọi oai nghi như vậy sẽ hỗ trợ đắc lực cho tuệ giác và đem lại lợi ích vô cùng to lớn khi ta quay lại nỗ lực với đề mục thiền định chính (căn bản).”

[Trích lục nguyên văn từ tập *Saṅkhepa Vinicchaya* và *Gaṇacārika Paṭipatti*. Đây là những lời do chính Ngài Đại đức tự thân viết ra, chỉ có một vài thay đổi nhỏ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cho phù hợp.]

### Từ bãi chăn bò đến Phật học viện rừng Nyaung Lunt

Các vị Thiền sư mới đến cũng thực hành 13 hạnh **Dhutaṅga** (Đầu đà) bất cứ khi nào thuận tiện, giống như Ngài Đại đức **U Medhāvī**. Những gốc cây và những trảng đất trống chính là những ngôi chùa mà Đức Thế Tôn đã ban tặng cho họ. Cũng giống như những bậc thượng tọa ấy, các đệ tử lớn là trụ trì ở khắp các nơi cũng lần lượt kéo nhau về đông đúc (một điều vô cùng hiếm thấy). Đến mùa an cư năm 1271 (thời Miến Tây), sau hơn 20 hạ lạp, đã có khoảng 50 vị đại trưởng lão cùng quy tụ về đây sinh sống. Nhờ hồng ân của Tăng bảo, các trú xứ và tự viện cứ thế hình thành một cách hợp lẽ, đúng theo Luật tạng, mà chẳng cần phải kêu gọi hay thuyết phục điều gì.

Do tình hình thực tế không thể tránh khỏi, Ngài Đại đức trẻ tuổi **U Medhāvī** đã cùng bàn bạc với các bậc trưởng lão để cùng soạn thảo các quy tắc (bởi nơi đây đã trở thành một đại tự viện). Các quy định bao gồm: “Nữ nhân không được ở lại qua đêm trong khuôn viên chùa; khi có khách cư sĩ đến, không được chào đón một cách thái quá hay bày biện bàn tiệc hậu hĩnh; không được tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ hay tấu nhạc trong chùa.” Những quy tắc này cùng với việc thực hành hạnh **Dhutaṅga** giúp các vị tu sĩ giữ gìn nếp sống đúng theo giới luật.

Trong số 12 điều luật được thông qua theo tinh thần kết tập, để mang lại lợi ích lâu dài, các vị Tăng đã cùng nhất trí ghi nhận những quyết định luật tạng của Ngài Đại trưởng lão Monankone là chuẩn mực cuối cùng. Đồng thời, toàn thể chư Tăng cũng đề nghị và phê chuẩn một quy định: yêu cầu Ngài Đại trưởng lão đăng đàn giảng dạy trọn vẹn năm bộ **Vinaya** (Luật tạng) Pāḷi, và thỉnh cầu Ngài trực tiếp hướng dẫn học thuật.

Dưới nhãn quan của bậc học giả Pháp học (**Pariyatti**), đây rõ ràng là một điều tốt đẹp không gì bằng. Tuy nhiên, xét dưới nhãn quan Pháp hành (**Paṭipatti**), điều này cũng đáng để suy ngẫm. Một vị Đại trưởng lão tuổi cao đức trọng, người đã ba lần từ bỏ tất cả để vào rừng sâu, vượt qua bao gian nan và đã hoàn thành sứ mệnh **Pariyatti** một cách vẻ vang, vậy mà sau khi đã dấn thân vào nơi rừng thẳm với lòng quyết tâm như thế, Ngài lại phải quay về với công việc giảng dạy, còn Ngài **U Medhāvī** thì...

## TRANG 446



...lại bận rộn với việc ghi chép và soạn thảo. Có thể nói rằng, dù không thể ngăn cản được đạo quả **Arahattaphala** (Alahan quả) của Ngài **U Medhāvī**, nhưng trách nhiệm về lớp học Luật tạng và các công việc của hội chúng đã giữ chân và tiêu tốn không ít thời gian của Ngài. Chính Ngài Đại trưởng lão Monankone cũng cảm thấy mệt mỏi khi mỗi ngày đều phải đối diện với lớp học Luật tạng Pāḷi và sự thăm viếng khánh tuế đông đảo của đệ tử, cư sĩ. Ngài thường than thở:

“Ta vào rừng sâu là vì muốn lánh xa những việc này. Vậy mà về đến đây, ta lại phải tiếp tục làm chúng lần nữa.”

Khi ấy, Ngài **U Medhāvī** cảm thấy trăn trở và đã đứng ra sắp xếp để Đại trưởng lão có thể an trú một cách thoải mái nhất. Ngài chỉ thông báo cho Đại trưởng lão những việc thật sự cần thiết, giới hạn việc tiếp khách và tự mình gánh vác mọi trọng trách lớn nhỏ.

Trong kinh **Mahāsuññata Sutta** (Kinh Đại Không - thuộc *Uparipaṇṇāsa*), Đức Phật đã từng thuyết về:

“Những tác hại của việc sống hội chúng và lợi ích của việc sống độc cư. Ngay cả khi sống trong hội chúng, nếu không phải vì mục đích dạy và học mà chỉ để đàm luận về Pháp thì còn có thể chấp nhận được; nhưng nếu sống độc cư mà vẫn để cư sĩ, quyến thuộc đi theo thì đó chính là chướng ngại cho đời sống **Brahmacariya** (Phạm hạnh).”

Ngoài ra, Ngài còn dạy rằng: “Người đệ tử không nên đi theo thầy chỉ để học chữ nghĩa sách vở nếu đã học trong nhiều tháng, nhiều năm. Chỉ khi vì mục đích nghe giảng về Pháp thì dù có bị xua đuổi, người đệ tử vẫn nên kiên trì đi theo.”

### Tiếng tụng kinh Paṭṭhāna của vị Thần Cây

Nhờ sự hộ trì và hỗ trợ tận tâm của Ngài **U Medhāvī**, Đại trưởng lão Monankone đã có thể an nhiên giảng Pháp và hành thiền. Vào mùng 8 tháng Tabaung năm thắp sáng 1274 (Miến Tây), ở tuổi 65, sau 5 mùa an cư tại đây, Ngài đã viên tịch vì bệnh kiết lỵ.

Sau khi xây dựng tháp bảo để lưu giữ di cốt, Ngài **U Medhāvī** vẫn giữ trọn đạo hiếu với thầy mình. Cứ vào 3 giờ sáng mỗi ngày, Ngài lại dâng nước rửa mặt và tăm xỉa răng giống như lúc thầy còn sinh tiền. Lòng tri ân đối với bậc thầy của Ngài sâu sắc và đáng kính đến mức khó tin. Ngay cả đối với ngôi đại tháp trong chùa, Ngài cũng cung kính dâng nước sạch, tăm xỉa răng, khăn lau mặt và đèn dầu như thể Đức Phật vẫn còn đang hiện tiền; đồng thời mỗi đêm, Ngài đều thực hiện nghi thức đảnh lễ ngũ thể đầu địa (chân, tay, trán, khuỷu tay và đầu gối chạm đất) hướng về tám phương cho đến trọn đời.

## TRANG 447


**391**

Công đức từ việc phụng sự Tam Bảo không tốn kém tiền bạc thì rất nhiều, nhưng người ta chỉ có thể làm được tương thích với mức độ **Saddhā** (Tín tâm) mà họ có. Và chính nhờ có sự hiểu biết (**Paññā**) mà lòng **Saddhā** ấy mới có thể trở nên trọn vẹn. Các hành giả nên tự đánh giá chính mình qua ba tiêu chí sau:

1. Tâm bất thiện và những phiền não nóng nảy đã giảm bớt và trở nên mát mẻ đến nhường nào?

2. Thân, khẩu, ý của mình đã trở nên thuần thục và lịch sự đến mức nào?

3. Niềm tin và lòng tri ân đối với Tam Bảo đã trở nên vững chắc đến đâu?

Đó chính là những dấu mốc cho thấy sự tiến bộ trong việc chứng đắc Pháp cao thượng.

Trong việc thực hành các giới hạnh như **Sīla** (Giới) đối với Tam Bảo, nếu vì bản thân không thực hành được hoặc vì đã lỡ phạm phải mà muốn che giấu, thì tuyệt đối không được có suy nghĩ rằng: “Điều này không quan trọng lắm đâu”. Không được nói lời sai trái, không được tự lừa dối hay quanh co với chính mình.

Tại thiền viện Nyaung Lunt, nơi được chia làm đôi thành hai khu vực đông và tây để tách biệt Pháp hành (**Paṭipat**) và Pháp học (**Pariyat**), Ngài **U Medhāvī** vẫn miên mật tu tập không ngủ ngay cả sau khi thầy mình đã qua đời. Sau 10 giờ đêm, Ngài luôn ẩn mình vào nơi tĩnh mịch để chuyên tâm thiền định. Cho đến khoảng 6 năm trước khi nhập Niết-bàn, Ngài vẫn tự mình thực hiện các hạnh **Dhutaṅga** như đi khất thực; đồng thời thực hành hạnh ‘**Sāraṇīyabhatta**’ (vật thực hòa hợp) - tức là đem toàn bộ vật thực khất thực được dâng cúng hết cho Tăng chúng, rồi sau đó mới thọ dụng những gì Tăng chúng nhường lại.

[Cách thực hành hạnh **Sāraṇīyabhatta** – một công hạnh giúp mang lại phước báu đầy đủ đến mức người ta thường nói ‘hễ có cây là có cơm’ – đã được viết chi tiết kèm theo các câu chuyện minh họa trong cuốn sách ‘*Những bậc Thánh mẫu mực thời Tey-ho (Sri Lanka)*’.]

Đôi khi vào ban đêm, trong nơi tĩnh tu, người ta nghe thấy tiếng tụng đọc kinh **Paṭṭhāna** (Vị Ngạch) phần **Pañhāvāra** vang lên lảnh lót. Tiếng tụng ấy nghe rõ hơn vào những đêm trăng rằm. Khi lần theo hướng phát ra âm thanh, tiếng tụng cứ thế xa dần, xa dần. Đôi khi, người ta thoáng thấy bóng dáng một vị đắp y cà-sa. Đó chính là Ngài Đại trưởng lão Monankone nay đã trở thành vị Thần Cây (Rukkhaso). Ngài được cho là luôn trông nom và bảo vệ những người hành thiền, nếu có hiểm họa gì sắp xảy đến, Ngài sẽ báo trước để họ kịp thời hay biết. Ngài thường ngụ tại một gốc cây gần tháp mộ và thường xuyên đi tuần quanh khu vực bìa rừng nơi các hành giả tĩnh tu.

Ngày xưa, có nhiều vị Đại trưởng lão học rộng tài cao thường có tâm nguyện muốn trở thành Thần Cây để “chờ ngày dự lễ **Dhātuparinibbāna** (Xá-lợi nhập Niết-bàn)”. Đó chẳng qua là vì họ chưa nhận chân được sự thăng hoa của kiếp người hiện tại và thiếu đi tuệ giác để thấu thị con đường **Niyyānika** (Đạo giải thoát) của giáo pháp, nên mới cam chịu từ bỏ cơ hội đạt đến mục đích tối thượng để đổi lấy một sự an nhàn tạm bợ. Khi mà một người vẫn chưa đạt được bất cứ pháp cao thượng nào, thì việc phải sống một đời dài đằng đẵng trong thân phận Thần Cây quả thực là một điều đáng chán nản và tẻ nhạt vô cùng.
