## TRANG 448

#### Đắc chứng Thiền định và Nhãn thông

Từ năm 1274 (Miến lịch - khoảng 1912 DL), Ngài Sayadaw đã nỗ lực tinh tấn tu tập pháp hành **Vipassanā** (Minh sát) bằng cả mạng sống. Có một đêm, tại ngôi giảng đường lớn phía bắc gần bảo tháp Xá-lợi, Ngài thức trắng đêm hành thiền. Tiếng ồn ào như có vật gì leo lên hạ xuống phía ngoài vách gỗ liên tục vang lên rầm rập, khiến Ngài khó lòng duy trì định tâm.

Ngài tự nhủ: "Hẳn là đồ chúng của Ma vương. Nếu có thể sát hại thân mạng ta thì cứ để chúng làm, việc của ta thì ta vẫn phải làm." Với tâm xả ly thân mạng, Ngài tiếp tục nỗ lực tu tập, hoàn toàn buông xả đối với những âm thanh náo loạn xung quanh. Đến ba giờ sáng, khi vị Sa-di nhỏ mang nước rửa mặt đến, Ngài bảo vị ấy kiểm tra thì phát hiện một con rắn lục lớn dài khoảng bảy tạng (hơn 3 mét), nhưng chỉ một lát sau nó liền biến mất một cách kỳ lạ.

Nhờ tinh thông pháp Anāpāna (Niệm hơi thở), Ngài đã đắc chứng định sắc giới, định vô sắc giới và đạt được Tám bậc Thiền định (Thiền bát định). Một khi đã tinh thông một đề mục, các pháp nghiệp xứ khác cũng tự nhiên trở nên dễ dàng. Một ngày nọ, khi đang giảng về chương Thiền của tạng Abhidhamma (Vi diệu pháp), Ngài dạy rằng:

"Khi định lực của chúng ta đã mạnh mẽ, bất kể là pháp thiền định hay Kasina (đề mục biến mãn) nào, chỉ cần hướng tâm đến là sẽ hiện rõ ngay lập tức. Thậm chí khi nhìn vào những chiếc lá trên cây, đề mục Blue Kasina (biến mãn màu xanh) liền được tu tập thuần thục ngay tại đó."

Do thường xuyên nhập Thiền bát định, dù chưa đạt đến Thắng trí (Abhiññā), nhưng với định lực bậc Đại hành (Mahaggata), Ngài có thể nhìn thấy các chúng sinh vô hình rõ ràng như nhìn bằng mắt thường. Khi Ngài quang lâm dự lễ kiết giới Sīmā tại làng Khin Tan ở thị trấn Nyaunglebin, vào khoảng ba giờ sáng, Ngài đi bộ một mình đến khu nghĩa trang gần làng để hành thiện định ban mai. Tại đó, Ngài thấy vô số ma quỷ hiện ra quấy nhiễu; Ngài đã rải tâm từ và tụng kinh Āṭānāṭiya, khi ấy chúng mới chịu tản đi.

Một ngày nọ, khi Ngài đang hành thiền trên giảng đường Wat Yon, tại bậc thềm nơi cởi giày có một con ngạ quỷ đang ngồi phủ phục. Ngài hỏi:

"Ngươi là ai?"

Nó đáp: "Bạch Ngài, con là Nandiya, xin Ngài cứu độ cho con." Đó vốn là một vị tỳ-khưu hộ tự trước đây, dù giới hạnh trong sạch nhưng vì tâm còn luyến ái thân xác nên sau khi viên tịch đã rơi vào cảnh giới ngạ quỷ, thân hình tiều tụy gầy mòn, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngài đã hướng dẫn các thí chủ làm phước hồi hướng; ngay đêm đó, với thân hình hào quang sáng chói, vị ấy hiện ra đỉnh lễ và thưa:

"Bạch Ngài, giờ đây con đã được tái sinh lên thiên giới."

## TRANG 449

Trong việc cứu độ chúng sinh, giáo pháp của đức Thế Tôn thật dễ hiểu, sắc bén, đem lại niềm hỷ lạc và là nơi nương tựa vững chắc thay!

#### Dùng Chánh pháp ngăn ngừa bệnh tật

Ở thế gian, những người có trí hiểu biết thường phải làm việc nhiều hơn. Vào thời các Ngài Sayadaw Nyaunglun, các dịch bệnh như dịch hạch, dịch tả, đậu mùa hoành hành dữ dội. Giống như việc sử dụng các thấu kính có độ phóng đại khác nhau sẽ thấy hình ảnh khác nhau, trong việc phòng chống bệnh tật, cái nhìn của mỗi người cũng không đồng nhất. Người thì cho là do thời tiết, người bảo do vi khuẩn, kẻ nói do chuột chết, người lại cho là do thần linh quở trách... mỗi người nói theo cách mình thấy và phòng ngừa theo cách mình hiểu. Chỉ trong giáo lý Phật Đà mới có cái nhìn toàn diện nhất.

Cũng giống như Sayadaw Ledi, Sayadaw Nyaunglun cũng phải đối mặt với các bệnh dịch. Do phước đức và giới hạnh của con người suy giảm, lương thực khan hiếm, nên các nạn bệnh do phi nhân gây ra càng nhiều.

Xưa kia, khi thành Vesālī gặp nạn đại dịch, Ngài Ānandā đã trì tụng kinh Ratana Sutta suốt cả đêm để cứu độ. Tương tự, vì số lượng các bậc thiện tri thức có đủ sức mạnh Giới - Định - Tuệ còn quá ít ỏi so với vô số kẻ bất thiện, nên các Ngài phải lao tâm khổ tứ rất nhiều. Giống như vừa phải tiến lên đánh giặc ở phía trước, vừa phải lùi lại chăm sóc bệnh nhân ở phía sau, công việc vì thế mà gặp nhiều gian nan.

Khi đại dịch lan rộng khắp các vùng phương hướng, Ngài nhìn thấy vô số Dạ-xoa, Ngạ quỷ đang tiến về phía tự viện và các làng mà Ngài thường đi khất thực nhiều như những đàn trâu lớn. Ngài đã khuyến tấn tất cả tăng ni, phật tử giữ gìn giới hạnh, tu tập tâm từ, đồng thời cho trì tụng các bài kinh Paritta và Kammavāca liên tục. Nhờ đó, vùng xung quanh nơi Ngài ngụ không xảy ra dịch bệnh. Những làng mới bắt đầu nhen nhóm bệnh dịch cũng được dập tắt hoàn toàn. Ngài cũng nhìn thấy các nhóm phi nhân lánh xa vùng của Ngài để đi sang các vùng xaôi khác, khiến dân chúng nơi đó phải chịu khổ sở vì bệnh tật.

#### Tại sao không đắc được Thắng trí?

Từng ngày trôi qua, thân hình Ngài Sayadaw càng trở nên gầy gò, chỉ còn da bọc xương, chỉ giữ được mạng sống mong manh. Có khi suốt cả mùa hạ, Ngài tạm dừng việc giảng dạy để dốc hết tâm lực vào tu tập. Tuy nhiên, Ngài chỉ đạt được định thế gian, tâm thường hướng về các cảnh giới ngoại cảnh bên ngoài. Ngài lại xoay sang tu tập để tìm cách đạt được các năng lực Thắng trí (Abhiññā - Thần thông).

## TRANG 450

Tăng thống (Sayadaw U Nāyaka) hiện tại từng bạch hỏi Ngài: "Nếu việc đắc các bậc Thiền bát định, Thập Kasina và Pháp bất tịnh (Asubha), Tứ vô lượng tâm (Brahmavihara) đã trở nên dễ dàng như vậy, thì tại sao thời nay lại không thể đắc chứng Thắng trí?" Sayadaw đã chia sẻ quan điểm của mình dựa trên kinh nghiệm thực chứng như sau:

"Để đắc chứng Thắng trí vào thời nay là cực kỳ khó khăn. Tại sao vậy? Bởi vì chúng sinh không còn giữ gìn Chánh pháp, khiến thời tiết bị biến đổi nghịch thường. Thời tiết biến đổi dẫn đến các sắc pháp do thời tiết tạo (utuja-rūpa) và các nguồn lương thực, vật thực phụ thuộc vào thời tiết bị biến chất, suy thoái. Con người khi tiêu thụ những thực phẩm đó thì các sắc pháp do vật thực tạo (āhāraja-rūpa) cũng trở nên kém cỏi. Khi các loại sắc pháp này suy yếu thì các sắc pháp do nghiệp tạo (kammaja-rūpa) liên đới cũng không còn vững chắc. Tâm thức và định lực nương tựa trên các sắc pháp suy yếu đó cũng không thể đạt đến sức mạnh tối ưu. Do sắc pháp và tâm pháp đều suy yếu, nên cấu trúc thân xác (attabhāva-khandha) không bền vững. Theo như Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đã dạy, con người không thể điều phục tâm theo 14 cách thức, nên dù có đắc được Thiền bát định cũng không thể làm nảy sinh Thắng trí được."

Đó là quan quan điểm của Ngài Sayadaw.

Vùng đất nơi Ngài ngụ cư khi ấy đang lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn: hạn hán kéo dài, lương thực khan hiếm, bệnh tật bủa vây, và khoa học kỹ thuật chưa phát triển. Nhìn vào bối cảnh thời gian và không gian đó, những lời dạy của Ngài là hoàn toàn xác đáng. Tuy nhiên, thời đại ngày nay tuy cách không xa về thời gian nhưng bối cảnh đã hoàn toàn khác biệt. Nguồn thực phẩm đã phong phú và tốt hơn; y tế, thuốc men và dinh dưỡng đã phát triển vượt bậc. Nếu suy xét kỹ, sự tiến bộ về điều kiện sống và y tế là rõ rệt.

Gác lại chuyện vật thực, thực tế vẫn có những trường hợp không ăn uống mà vẫn có thể duy trì mạng sống trong nhiều tháng ngày. Trong bốn nhân tố Nghiệp, Tâm, Thời tiết, Vật thực (Kamma, Citta, Utu, Āhāra), thì Tâm là chủ đạo. Các bản chú giải và phụ chú giải (Aṭṭhakathā, Tīkā) cũng khẳng định rằng: "Tâm - sắc do tâm tạo mới là nhân tố dẫn dắt và kiểm soát các sắc do các nhân tố còn lại tạo ra." Do đó, quan điểm của Ngài Sayadaw là đúng đắn khi xét trong bối cảnh thời đại và địa phương nơi Ngài sinh sống.

Dù vật thực có thô sơ đến đâu, thì có lẽ cũng chưa đến mức tồi tệ như thời đức Phật và các vị đệ tử phải dùng lúa mạch của ngựa. Nguyên nhân chính yếu có lẽ là do chưa hội đủ sức mạnh của thời đại để đạt đến những tầm cao đó.